e

Thứ Hai, tháng 4 18, 2022

Quy hoạch điện VIII – bài toán chiến lược cấp bách: Bài 1: Bức tranh tổng thể điện lực quốc gia

 

Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện VIII) là quy hoạch ngành quốc gia đặc biệt quan trọng, có độ phức tạp cao và được nhiều cơ quan, đơn vị, chuyên gia, nhà khoa học cũng như các địa phương trong cả nước đặc biệt quan tâm. Đây là quy hoạch ngành quốc gia được triển khai đầu tiên theo quy định của Luật Quy hoạch năm 2017. Để giúp bạn đọc có thêm thông tin tổng quan về vấn đề này, Báo Công Thương Điện tử xin trân trọng giới thiệu loạt bài 'Quy hoạch điện VIII – bài toán chiến lược cấp bách'

0:00/ 13:35
Nam miền Bắc

Tổng quan về nguồn điện và lưới điện ở Việt Nam hiện nay

Theo báo cáo tại của Bộ Công Thương tại hội nghị trực tuyến với các địa phương về hoàn thiện Quy hoạch điện VIII do Phó Thủ tướng Lê Văn Thành chủ trì ngày 15/4 vừa qua, tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 10,7%/năm, giai đoạn 2016-2020 đạt 9,6%/năm (riêng năm 2020 chỉ đạt 3,36% do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19).

Tiêu thụ điện tập trung chủ yếu tại miền Bắc và miền Nam, chiếm tới 90% tổng lượng điện tiêu thụ toàn quốc. Miền Trung chiếm tỉ lệ thấp, khoảng 10%. Tỷ trọng tiêu thụ điện của miền Bắc có xu hướng tăng dần (39,2% năm 2011, 44,1% năm 2020), miền Nam có xu hướng giảm dần tỷ trọng tiêu thụ điện (51,1% năm 2011, 47% năm 2020).

Tính tới cuối năm 2020, tổng công suất lắp đặt các loại hình nguồn điện của hệ thống điện quốc gia đạt 69.342 MW, trong đó miền Bắc 25.121 MW (36,2%), miền Trung 12.323 MW (17,8%) và miền Nam 31.898 MW (46%). Về cơ bản, hệ thống điện đảm bảo đáp ứng nhu cầu phụ tải của toàn quốc.

Công trình Thủy điện Sơn La

Điện gió, điện mặt trời phát triển mạnh

Trong giai đoạn 2016-2020, tổng số các dự án điện mặt trời được phê duyệt bổ sung quy hoạch là 175 dự án với tổng công suất 19.126 MWp (tương ứng khoảng 15.400 MW ac). Các dự án được bổ sung quy hoạch tập trung chủ yếu tại miền Trung và miền Nam (chiếm tới trên 96%). Phần lớn các dự án điện mặt trời quy mô lớn do Bộ Công Thương quyết định bổ sung quy hoạch đã đi vào vận hành trong khi các dự án do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt bổ sung quy hoạch mới đưa vào vận hành khoảng 42% (4.617/11.179 MW). Hiện nay, còn khoảng 41 dự án/6.083 MW đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch và chưa đưa vào vận hành. Các dự án này sẽ được xem xét, đánh giá tính khả thi phát triển trong thời gian tới đây.

Quy hoạch điện VII điều chỉnh đã phê duyệt danh mục nguồn và lưới điện đấu nối cho 11.741 MW/188 dự án điện gió. Khoảng 99% các dự án điện gió (187 dự án/11.621 MW) được bổ sung quy hoạch tập trung tại khu vực miền Trung và miền Nam, chỉ khoảng 1% tập trung tại khu vực miền Bắc.

Hệ thống điện Việt Nam hiện đang vận hành với nhiều cấp điện áp từ hạ áp (0,4 kV) đến trung áp (6-35 kV), cao áp (110, 220 kV) và siêu cao áp (500 kV). Tới cuối năm 2020, cả nước có 8.527 km đường dây 500 kV, 18.477 km đường dây 220 kV, 37 trạm biến áp 500 kV/tổng dung lượng 42.900 MVA, 136 trạm biến áp 220 kV/tổng dung lượng 67.824 MVA. Ngoài ra, có 866 trạm biến áp, 24.318 km đường dây 110 kV, 360.000 km lưới điện trung áp, 350.000 km lưới điện hạ áp, đảm bảo cung ứng điện cho 28,94 triệu khách hàng, 100% số xã, 99,47% số hộ dân (99,18% số hộ dân nông thôn).

Đánh giá chung về phát triển nguồn và lưới điện cho thấy: Về cơ bản, tổng công suất lắp đặt hệ thống điện đảm bảo đáp ứng nhu cầu phụ tải cực đại của toàn quốc nhưng mức độ dự phòng công suất khả dụng của hệ thống chưa cao (9,06% vào mùa mưa và khoảng 8,16% vào mùa khô); sự chênh lệch mức dự phòng khả dụng giữa các miền khá lớn.

Nhiều nguồn điện xây dựng chậm tiến độ; phát triển nguồn điện chưa phù hợp với sự phân bố phụ tải. Tăng trưởng nguồn điện tại miền Bắc thấp hơn so với tăng trưởng công suất cực đại (9,3% so với 4,7%); tăng trưởng nguồn điện tại miềnTrung và miền Nam cao hơn nhiều so với tăng trưởng công suất cực đại.

Cơ cấu nguồn điện phân bố không đều tại các miền (miền Bắc chủ yếu là nhiệt điện than, miền Trung chủ yếu là thủy điện và miền Nam chủ yếu là nhiệt điện khí).

Lưới điện vận hành còn nhiều khó khăn, một số khu vực lưới điện 220 kV và 110 kV vẫn còn xuất hiện tình trạng đầy và quá tải lưới điện, chưa đáp ứng tiêu chí N-1 về độ tin cậy nên tiềm ẩn rủi ro trong việc vận hành an toàn hệ thống điện. Tốc độ phát triển lưới điện phát triển chậm hơn so với tốc độ phát triển nguồn điện, đặc biệt là chưa đồng bộ với các nguồn năng lượng tái tạo khiến một số nguồn điện năng lượng tái tạo bị cắt giảm công suất phát…

Điện mặt trời vượt hơn 10 lần so với quy hoạch

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, xây dựng nguồn điện trong giai đoạn 2016-2020 chỉ đạt 28.479 MW trên tổng công suất quy hoạch dự kiến là 35.483 MW, đạt 80%. Tuy nhiên, tỷ lệ thực hiện quy hoạch của các nguồn điện lớn (than, khí) đóng vai trò quan trọng đảm bảo an ninh cung cấp điện và là nguồn điện chạy nền đạt thấp (63%), dẫn tới thiếu hụt nguồn cấp và tỉ lệ dự phòng công suất của hệ thống thấp.

Điện mặt trời thực hiện vượt cao hơn nhiều so với quy hoạch đặt ra (gần 8.700 MW điện mặt trời quy mô trên 1 MW đã vào vận hành tới năm 2020 so với dự kiến khoảng 700 MW đề ra trong Quy hoạch), tập trung chủ yếu tại khu vực miền Trung và miền Nam.

Tỷ lệ thực hiện quy hoạch các công trình lưới điện gồm có Trạm biến áp 500 kV và 220 kV lần lượt là 88,8% và 90,6% và đường dây 500 kV và 220 kV lần lượt là 77,6% và 73,9%. Vận hành lưới điện còn nhiều khó khăn, tiềm ẩn rủi ro vận hành vào các thời điểm cao điểm.

Hiện nay phát triển nguồn điện mất cân bằng giữa các vùng miền. Nhiều nguồn điện khu vực miền Bắc chậm tiến độ dẫn tới tình trạng thiếu hụt công suất nguồn điện vào một số thời điểm. Năng lượng tái tạo phát triển nóng tại cuối kỳ quy hoạch tại miền Trung và miền Nam. Cơ sở hạ tầng lưới điện chưa đáp ứng được yêu cầu vận hành an toàn, tin cậy. Tỷ lệ thực hiện phát triển lưới điện 500 kV so với quy hoạch đạt 72,2%, lưới điện 220 kV đạt 80% nên lưới điện tại một số khu vực xuất hiện tình trạng đầy và quá tải lưới điện trong vận hành.

Quy mô nguồn điện Việt Nam xếp thứ 23 thế giới

Theo báo cáo của Bộ công Thương, kết quả thực hiện Quy hoạch điện VII và Quy hoạch điện VII điều chỉnhđã bảo đảm được cân đối lớn về an ninh năng lượng quốc gia giai đoạn 2016-2020. Cung cấp điện cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội với chấtlượng ngày càng cải thiện.

Quy mô nguồn điện của Việt Nam năm 2020 tăng gần 2 lần so với năm 2015, đứng thứ 2 trong các nước ASEAN và đứng thứ 23 thế giới. Hệ thống điện phát triển theo hướng hiện đại và phù hợp với xu hướng chung của thế giới.

Năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời) phát triển mạnh, từng bước góp phần vào việc giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và tăng tính chủ động trong việc cung cấp điện.

Đầu tư hạ tầng cung cấp điện có sự phát triển mạnh mẽ, đưa điện lưới quốc gia tới hầu hết mọi miền của đất nước với gần 100% số hộ dân (99,47%) được cung cấp từ lưới điện quốc gia. Cơ sở hạ tầng điện lực này càng hiện đại, tỷ lệ tổn thất điện năng giảm đáng kể trong giai đoạn 2016-2020, vượt kế hoạch đề ra.

Các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển ngành điện ngày càng đa dạng giúp giảm gánh nặng đầu tư từ ngân sách cho phát triển điện lực. Việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả từng bước được quan tâm và mang lại kết quả tích cực (hệ số đàn hồi điện/GDP giảm từ 1,84 lần giai đoạn 2011- 2015 xuống 1,44 lần giai đoạn 2016-2020).

Một số bất cập trong thực hiện Quy hoạch điện VII điều chỉnh

Phát triển hệ thống điện chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn lực sẵn có. Phát triển nguồn điện chưa phù hợp với phân bố và phát triển phụ tải, gây mất cân bằng cung - cầu miền, tạo sức ép lên lưới truyền tải liên miền (từ miền Trung, miền Nam ra miền Bắc), gây lãng phí, tổn thất và rủi ro vận hành an toàn.

Các nguồn điện lớn chậm tiến độ kéo dài gây thiếu nguồn điện chạy nền cho hệ thống điện. Nguy cơ thiếu hụt cung cấp điện cao trong trung và dài hạn (theo đánh giá, nếu tăng trưởng kinh tế phục hồi nhanh, miền Bắc có thể thiếu điện từ năm 2022, miền Trung và Nam thiếu điện giai đoạn 2024-2025).

Mức dự phòng công suất khả dụng của hệ thống khá thấp, chưa đáp ứng tiêu chuẩn vận hành chung của hệ thống điện, gây khó khăn cho công tác vận hành (một số thời điểm đã phải sa thải phụ tải tại khu vực miền Bắc). Phát triển nóng các loại hình điện gió, mặt trời (tập trung ở miền Trung, miền Nam); tính đồng bộ trong phát triển nguồn và lưới điện còn hạn chế, không kịp giải tỏa công suất nguồn điện. Tỷ trọng cao (24,3% tổng công suất, 44% công suất tiêu thụ) các nguồn điện gió, điện mặt trời gây khó khăn trong công tác vận hành, điều độ hệ thống điện, ảnh hưởng vận hành các nguồn nhiệt điện than, khí.

Điện năng sản xuất từ nguồn nhiệt điện than (nguồn phát thải nhiều khí CO2) chiếm tỉ trọng lớn (khoảng 50% tổng điện năng sản xuất). Nguồn điện này phát thải nhiều khí CO2 và cần phải được hạn chế phát triển nhằm đáp ứng các cam kết của Việt Nam đối với quốc tế về phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính.

Phát triển lưới điện truyền tải chưa đi trước một bước để phát huy hiệu quả các nguồn điện; lưới điện chưa được đầu tư kịp thời, dự án triển khai kéo dài, chậm tiến độ dẫn tới tình trạng quá tải cục bộ, vận hành gặp khó khăn, chưa đảm bảo tính kinh tế - kỹ thuật của hệ thống.

Hiệu quả khai thác và sử dụng điện còn chưa cao (hệ số đàn hồi điện là 1,44 lần giai đoạn 2016-2020 vẫn cao hơn hệ số đàn hồi của các nước ASEAN ước tính khoảng 1,36 lần) do phát triển kinh tế vẫn dựa vào các ngành công nghiệp có mức thâm dụng năng lượng lớn.

Giá điện chưa đủ hấp dẫn để thu hút đầu tư vào ngành cũng như thúc đẩy, tạo động lực cho các hoạt động sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả. Cơ cấu nguồn điện có tỉ lệ các nhà máy điện than còn cao, tiềm ẩn nguy cơ làm tăng phát thải khí CO2, ảnh hưởng tới môi trường.

Bài toán cấp bách

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị trực tuyến toàn quốc, Phó Thủ tướng Lê Văn Thành đặt vấn đề, đây là một quy hoạch khó, vì phải giải bài toán tổng hợp các yếu tố: đặt nguồn điện ở đâu, vừa tính toán lượng hao hụt khi phải truyền tải điện đi xa, vừa phải bảo đảm phụ tải, bảo đảm giá thành hợp lý, đồng thời phải thực hiện cam kết của Việt Nam tại COP26 "đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050".

"Nếu đưa vào quy hoạch nhiều quá thì sau này sẽ gây lãng phí, hiệu quả khai thác của các nhà máy sẽ thấp", Phó Thủ tướng lấy ví dụ. "Sản xuất điện ra với giá thành thấp nhưng vận chuyển xa thì dẫn tới hao hụt, cộng thêm chi phí đường dây cũng như rủi ro khi có sự cố như thiên tai".

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Đoàn Thị Thanh Mai: Lập Quy hoạch điện VIII là nhiệm vụ cấp bách hiện nay. Tại phiên giải trình về an ninh năng lượng, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cũng đặt ra vấn đề cần phải sớm hoàn thiện Quy hoạch điện VIII bởi nhu cầu điện cho sinh hoạt và sản xuất, phục vụ phát triển kinh tế ngày càng tăng. Tại Hội nghị COP26, Thủ tướng Chính phủ đã cam kết đưa phát thải ròng của Việt Nam bằng 0. Đây là nội dung cần phải được thể hiện trong Quy hoạch điện hướng tới phát triển năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và bền vững. Đây cũng chính là nội dung được Bộ Chính trị đề ra tại Nghị quyết 55-NQ/TW về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Như vậy, những nội dung yêu cầu này sẽ được thể hiện như thế nào trong Quy hoạch điện VIII.

Đặc biệt, Phó Thủ tướng lưu ý một vấn đề là nhu cầu đăng ký của các doanh nghiệp, các địa phương rất lớn, đến năm 2030 đăng ký quy hoạch khoảng gần 520.000 MW, gấp khoảng 3,5 lần dự kiến tổng công suất đặt hệ thống điện quốc gia năm 2030. Tuy nhiên, với tinh thần "đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, trước hết", bảo đảm an ninh năng lượng, khoa học, hiệu quả, Quy hoạch không thể đáp ứng được hết các yêu cầu của doanh nghiệp, địa phương với số lượng đăng ký lớn như vậy.

Báo cáo tại cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An cho biết, so với các phương án đã trình trước đây, dự thảo lần này đã giảm triệt để phát thải khí CO2 do không phát triển các nhà máy nhiệt điện than trong thời kỳ quy hoạch. Thực hiện chuyển đổi nhiên liệu từ than sang biomass và amoniac, từ khí tự nhiên, LNG sang hydrogen.

Đặc biệt, cơ cấu nguồn điện và phân bổ không gian phát triển có nhiều thay đổi so với trước đây. Hệ số dự phòng trước đây là 1,93 thì bây giờ là 1,54, qua đó, sẽ tiết giảm vốn đầu tư xã hội. Trên cơ sở phân bổ vùng hợp lý hơn, tiết kiệm đầu tư đường dây khoảng 13 tỷ USD.

Tổng quy mô công suất nguồn điện dự kiến phát triển đến năm 2030 dự kiến khoảng 146.000 MW, giảm khoảng 35.000 MW so với phương án đã trình ngày 26/3/2021.

Bộ trưởng Công Thương Nguyễn Hồng Diên cho rằng, cần tính đến bài toán kinh tế trên phạm vi cả nước chứ không chỉ vùng, địa phương. Khi đề xuất quy hoạch, các địa phương chủ yếu căn cứ vào điều kiện tự nhiên, thuận lợi của địa phương mình mà chưa tính toán được các ràng buộc tổng thể về liên kết vùng, hiệu quả kinh tế tổng thể quốc gia. Trong khi đó, cách tiếp cận của Bộ Công Thương theo phương pháp tổng thể, vừa từ dưới lên nghĩa là quan tâm tới đề xuất của địa phương để khai thác tiềm năng, lợi thế của địa phương và vừa từ trên xuống nghĩa là cân đối để tối thiểu hóa chi phí toàn hệ thống, cân đối vùng miền, hài hòa lợi ích giữa nhà nước, người dân, nhà đầu tư. "Có thể nói Quy hoạch Điện VIII giống như chúng ta đang vẽ một bức tranh trên nền các bức tranh có sẵn sao cho hài hòa, hợp lý", Bộ trưởng mong muốn các địa phương chia sẻ cái khó với Bộ, với Chính phủ vì phải vẽ bức tranh trên nền cũ. "Chỉ có phương án tối ưu chứ không có phương án hoàn hảo".

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương: “Nếu làm quy hoạch khung định hướng với Quy hoạch điện VIII thì ngay với định mức dự kiến điện gió hiện nay thì chỉ hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận đã có thể hút hết dự án. Quy hoạch định hướng như vậy cũng có thể tạo ra một cuộc chạy đua cực kỳ khốc liệt giữa các địa phương, tỉnh nào đi trước sẽ thắng, giành một phần công suất sẽ tác động rất lớn đến tăng trưởng của địa phương. Đây là hạn chế của quy hoạch định hướng nhưng nếu quy hoạch chi tiết đến từng danh mục thì khâu tính toán của Bộ Công Thương sẽ rất nặng nề. Do đó, các nội dung của Quy hoạch điện VIII còn cần bàn bạc, rà soát kỹ lưỡng".

(Còn nữa)

Nhóm PV Baomoi.com

Thứ Hai, tháng 4 11, 2022

Bể ngâm thủy điện kiểu vòm ngược lớn nhất thế giới

 


TRUNG QUỐCSau 4 tháng bảo trì, bể ngâm rộng bằng 6,5 sân bóng đá của nhà máy thủy điện Bạch Hạc Than đã hoạt động trở lại vào hôm 9/4.

TheoVNexpress


Chủ Nhật, tháng 4 10, 2022

Giá điện VN so với EU&USA G7 @TQ Asean?

 Vn giá điện so với eu usa g7 @Tq asean?

[Vài dòng về GIÁ ĐIỆN]
1. Giá bán buôn và bán lẻ điện hơn chục năm qua tại US thế nào?
• Theo như Hình 1 thì giá bán lẻ hầu hết các khu vực có xu hướng giảm đều đặn từ năm 2010 đến nay (để dễ nhìn thì $0.1~tầm 2.300VNĐ cho 1kWh (1số điện)). Trong khi đó giá bán buôn lúc tăng lúc giảm tùy thuộc vào tình hình cơ cấu nguồn, giá nhiên liệu và các sự kiện kinh tế, chính trị xã hội khá phức tạp.
• Do covid-19, năm 2020 có những sự biến động sẽ lưu dấu lịch sử, khi mà giá điện thay đổi bất thường ở hầu hết các khu vực trên US. Cụ thể năm 2020, giá suy giảm kỷ lục do nhu cầu thấp bởi hoạt động kinh tế đình trệ bởi covid, trong khi nguồn cung khí thiên nhiên lớn. Ngược lại, mùa hè năm 2021, giá khí đột ngột tăng vọt lên 84% kéo theo giá điện tăng gấp đôi nhiều nơi. Đặc biệt, đường màu đỏ ở Texas (Ercot) tăng kiểu "Lan đột biến" do một mùa đông lạnh tàn khốc làm đóng băng hầu hết các đường dẫn khí đốt (chúng tôi có viết về sự kiện này trước đó https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1627829727387741&id=100004821881026). Cùng với đó là các thị trường khác tại US cũng bị ảnh hưởng bởi nguồn cung khí đốt từ Texas.
• Giá bán lẻ có tăng từ 2020 nhưng không tăng nhiều như giá bán buôn (đây là cách mà thị trường điện vận hành).
2. Giá điện các nước khác thì sao?
• Nhật Bản và Đức là hai “ông lớn” về giá điện trên toàn cầu (cao nhất Đức tầm gần 40cent~9200VNĐ cho 1 số điện, còn Nhật Bản là 28cent~6500VNĐ), nên nếu khi so sánh giá điện của Việt Nam với hai nước này, thì cần lưu ý với người nghe là đang so sánh với trường hợp siêu đặc biệt.
• Mỹ và Canada do lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, đa dạng nguồn cung, đặc biệt Canada thì rất nhiều thủy điện (cấp ~61%) nên giá điện thuộc dạng rẻ và biến đổi theo lượng mưa hàng năm. Giá bán điện các khu vực này loanh quanh 7cent~1600VNĐ).
Khi so sánh giá điện Việt Nam là cao hay thấp so với thế giới theo con số tuyệt đối thì từ mấy dòng trên đây cũng có thể biết được. Với cơ cấu tính giá khá phức tạp mà Bộ công thương có đưa ra thì không phải người dân nào cũng có thể ngồi mà tính được, khó ngay cả dân trong ngành. Khi xét đến giá điện cao hay thấp thì cảm nhận của người dân mới thực sự là quan trọng. Năm 2021, người Mỹ dùng 1,5% chi tiêu gia đình cho điện và khí. Ở Việt Nam thì chưa tìm thấy thống kê nào nên các bạn thử tính từ gia đình mình mà xem.
Nhưng giá điện đương nhiên sẽ cần nằm trong bối cảnh nước sở tại vì nó liên quan tới kinh tế, nhân lực, nguồn nhiên liệu sơ cấp và ngay cả định hướng nhà nước. Ví dụ đơn giản, nếu chúng ta nhập khẩu nhiên liệu dầu, than, LNG, khí để sản xuất điện, thì thành phần chi phí này trong giá sẽ phụ thuộc giá toàn cầu. Chi phí các thiết bị khác cho sản xuất, truyền tải, phân phối điện khi phải nhập khẩu cũng vậy. Vậy thì có nên chủ động nguồn cung từ Năng lượng tái tạo trong nước và chủ động về công nghệ để sản xuất các thiết bị trong nước?
Còn các chi phí nhân công thì rõ ràng Việt Nam có thể đang rẻ, trừ khi phần lớn nhân công đó đang ngồi ở các nước G7 mà lại điều hành hàng loạt các nhà máy sản xuất điện tại Việt Nam.
Một chuyên gia năng lượng trong một hội thảo vừa rồi có ước lượng giá điện có thể tăng 30% để đạt được Netzero2050 mà chính phủ ta đã cam kết tại COP26, tất nhiên không tính đến các yếu tố đặc biệt như sự kiện Texas. Cái giá cho Netzero2050 có thực là đắt như vậy?
(Các hình vẽ từ BloombergNEF)

Thứ Bảy, tháng 4 02, 2022

Thư giãn cuối tuần với Chùm ảnh nghệ thuật


VideoPVD

 

Thứ Bảy, tháng 3 26, 2022

Thụy Điển biến rác thành điện năng như thế nào?

 


Trên thế giới hiện nay, Thụy Điển là một quốc gia được mọi người thán phục nhờ công nghệ tái chế và đốt rác thải. Hãy cùng tìm hiểu xem bí mật công nghệ đứng đằng sau giúp quốc gia này được mệnh danh là quốc gia không rác thải.

Vấn đề ô nhiễm môi trường luôn là một vấn đề nóng của hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là việc rác thải ra môi trường. Số lượng rác thải ngày càng tăng lên do sự gia tăng của tiêu dùng, sản xuất,... nhưng chỉ một số ít quốc gia đưa ra được biện pháp cho vấn đề này.

Trong những năm gần đây, Thụy Điển luôn được biết đến là một trong những quốc gia đi đầu về tái chế rác thải với tỷ lệ tái chế rác lên đến 99%. Thậm chí, quốc gia này còn nhập khẩu hàng triệu tấn rác mỗi năm để tái sử dụng tạo ra điện năng. Vậy thì làm cách nào mà Thụy Điển có thể làm được những điều phi thường như vậy, video dưới đây sẽ chỉ ra cách người Thụy Điển sử dụng công nghệ của họ để tái chế rác và tạo ra điện năng.



Với số rác có được, Thụy Điển sẽ phân loại thành 2 loại không cháy và đốt cháy được với mục đích tái chế và đốt cháy làm thành năng lượng sử dụng được. Trong đó, số lượng rác đem đi đốt cháy tạo ra hơi nước làm quay máy phát điện và tạo ra điện. Số còn lại sử dụng cho cơ sở hạ tầng giao thông. Cùng với công nghệ trên, Thụy Điển còn đưa ra chính sách chặt chẽ và đồng bộ về việc sử dụng rác trên toàn quốc. Theo đó, người dân phải có thùng phân loại rác ngay tại nhà và các điểm tái chế được xây dựng trong vòng bán kính 300m từ các khu dân cư.

Từ việc sử dụng công nghệ thông minh kết hợp với hành động con người, Thụy Điển xứng đáng là một quốc gia tiên phong để thế giới noi theo về xử lý rác thải. Bạn nghĩ liệu rằng quốc gia chúng ta có thể thực hiện được cách bước tiến lớn này như Thụy Điển?


TheoNoron.vn

Thứ Sáu, tháng 3 11, 2022

Lưới được kết nối (The Connected Grid )


 Lưới được kết nối


Công nghệ 5G có phải là công cụ kỹ thuật số tiếp theo hay nó là một yếu tố thúc đẩy?

Gene Wolf

Công nghệ truyền thông không dây 5G (thế hệ thứ năm) đã ra đời được bao lâu? Đó không phải là một câu hỏi mẹo. Các nhà sản xuất điện thoại thông minh đã bán thiết bị và các công ty viễn thông (công ty điện thoại) đã cung cấp các bản nâng cấp trong nhiều năm, nhưng còn cơ sở hạ tầng thì sao? Cách đây vài tháng, một câu chuyện đã gây xôn xao dư luận về xung đột giữa ngành viễn thông và ngành hàng không. Các công ty viễn thông Hoa Kỳ đã tăng cường vùng phủ sóng 5G của họ cho đến khi họ gặp khó khăn.

Việc mở rộng bao gồm các tháp 5G mới xung quanh một số lượng lớn các sân bay lớn của Hoa Kỳ, nhưng các hãng hàng không tuyên bố rằng các tháp 5G này sẽ can thiệp vào hệ thống hạ cánh của máy bay của họ. Chính phủ liên bang đã can thiệp và trì hoãn việc đóng điện tòa tháp. Sau một số cuộc họp thứ 11 giờ, cuộc khủng hoảng đã được ngăn chặn và các công ty viễn thông đã quay trở lại cải thiện cơ sở hạ tầng của họ. Điều đó có liên quan gì đến hệ thống cung cấp điện? Bỏ qua tất cả những lời công khai, điểm mấu chốt ở đây là đã đến lúc phải coi trọng công nghệ 5G một cách nghiêm túc.

Công nghệ hỗ trợ 5G là cấp độ tiếp theo trong truyền thông không dây và cơ sở hạ tầng 5G (tức là vùng phủ sóng) đang được tăng cường trên khắp thế giới để có nhiều ứng dụng hơn. Quan trọng hơn, ngành cung cấp điện là một phần của xu hướng đang phát triển này. Các tiện ích hiểu được những lợi ích mà thế hệ công nghệ truyền thông tiếp theo mang lại. Đã có sự kết hợp giữa kết nối 5G với công nghệ lưới điện thông minh để tạo ra các ứng dụng lưới điện thông minh hơn và mạnh mẽ hơn.

Ưu điểm của 5G

Trước khi tiếp tục, có thể hữu ích khi xem xét những lợi thế mà 5G cung cấp. Vì đây là một danh sách bao quát, hãy giảm danh sách xuống những gì thực sự quan trọng. May mắn thay, một số nghiên cứu có cùng ý tưởng và họ đã thực hiện được công việc nặng nhọc. Có ba đặc điểm chính mà tất cả các kịch bản 5G đều có chung. Dẫn đầu đội hình là tốc độ cao hơn và chất lượng đó luôn đi kèm với đặc điểm số 2 được gọi là độ trễ thấp hơn. Điểm chung thứ ba là số lượng thiết bị có thể được kết nối với mạng 5G nhiều hơn.

Tốc độ nhanh hơn này có nghĩa là tốc độ truyền dữ liệu lớn cao hơn. Về mặt lý thuyết, tốc độ 5G tối đa là từ 10 đến 50 Gbps (giga cắn mỗi giây) và đó là mục tiêu. Độ trễ không phải là từ phổ biến đối với hầu hết chúng ta, mà nó chỉ đơn giản là độ trễ hoặc độ trễ diễn ra giữa việc gửi và nhận thông tin. Tốc độ trễ được báo giá nhiều nhất cho 5G là khoảng 1 mili giây.

Dung lượng cao hơn cho các thiết bị là khá dễ dàng. 5G hứa hẹn cung cấp dung lượng gấp 1.000 lần so với 4G. Với số lượng thiết bị kết nối ngày càng nhiều, băng thông gia tăng này là vô cùng quý giá. Một số nhà chức trách đã đi quá xa khi nói rằng các công nghệ hỗ trợ 5G và các ứng dụng nền tảng của nó “là tất cả những gì về nó”. Đối với lưới điện, chúng ta cần tập trung vào các ứng dụng công nghiệp. Nếu bạn không quen với 5G công nghiệp, hãy nghĩ rằng 5G của người tiêu dùng trên steroid.

5G công nghiệp

Một trong những mô tả tốt nhất về công nghệ hỗ trợ 5G công nghiệp đến từ Siemens Energy. Họ nói, “5G công nghiệp là giao tiếp 5G đáp ứng nhu cầu của các ứng dụng công nghiệp. Nó dựa trên Phiên bản 16 (hoặc mới hơn) của tiêu chuẩn không dây hỗ trợ lược đồ URLLC (truyền thông có độ trễ thấp siêu đáng tin cậy). Nó chạy trên phần cứng được thiết kế cho môi trường công nghiệp khác với các ứng dụng dựa trên người tiêu dùng. 5G công nghiệp được chạy trong một mạng riêng cục bộ và hỗ trợ các giao thức công nghiệp (OPC UA, PROFINET, Safety, v.v.). ”

Sự đồng thuận chung về 5G công nghiệp là nó có thể được coi như một chất xúc tác để cho phép giao tiếp tốc độ cao và đáng tin cậy cho lưới điện. Deloitte đã trình bày nó bằng những thuật ngữ dễ hiểu hơn trong một báo cáo có tiêu đề “5G tạo sức mạnh cho tương lai của điện năng”. Deloitte ước tính “Doanh thu số hóa toàn cầu hỗ trợ 5G cho mười ngành công nghiệp chính sẽ là 1,3 nghìn tỷ USD vào năm 2026, trong đó năng lượng và tiện ích (nước, điện, khí đốt, v.v.) chiếm tỷ trọng cao nhất là 19%, tương đương khoảng 250 tỷ USD. ” Nếu đây là bất kỳ dấu hiệu nào, thì sẽ có rất nhiều 5G công nghiệp trong tương lai của các công ty điện lực.

Trao đổi với Michael Dulaney, giám đốc cấp cao của Hitachi Energy, Global Operations / GM-Wireless, đã cung cấp một số thông tin chi tiết về truyền thông 5G được sử dụng trên lưới điện. Ông Dulaney nói, “5G không chỉ là sự phát triển tiếp theo của băng thông rộng di động. Các công nghệ truyền thông không dây từ lâu đã được sử dụng để kết nối lưới điện, từ TETRA đến LoRaWAN và Wi-Fi ”.

Dulaney tiếp tục: “Tuy nhiên, 5G đã sẵn sàng tạo ra tác động địa chấn lớn hơn bất kỳ thiết bị không dây nào của nó. Cho đến nay, 5G là một công nghệ cung cấp một số tính năng và kiến ​​trúc an ninh mạng mạnh mẽ nhất cho các hoạt động công nghiệp, giống như yêu cầu của các công ty điện lực ”.

Dulaney giải thích, “Khả năng 5G ngày càng có tầm quan trọng, cải thiện đáng kể khả năng kết nối cho số lượng ngày càng tăng của các ứng dụng di động, từ xa và ngoài trời được tìm thấy trên mạng phân phối. Khi nói đến nhiệm vụ-cr 

Nguồn : https://www.tdworld.com/smart-utility/article/21235428/the-connected-grid?utm_source=TW%20TDW%20Energizing&utm_medium=email&utm_campaign=CPS220309

Thứ Ba, tháng 3 08, 2022

Hà Nội Mùa thay lá




VideoPVD