e

Thứ Năm, tháng 8 25, 2011

Renewable & Alternative Energy - a fundamentals programme




Economic stability and sustainability require energy supplies that are cleaner, readily available, reliable and cost-effective. Renewable energy is now mainstream in most energy markets, with every sign of significant growth. A major factor is that most governments have support mechanisms for renewables to mitigate climate change and increase energy security.

What are ‘renewables’? Understanding requires knowledge of the basic scientific and engineering principles, and application includes awareness of the complex planning and financing arrangements involved in renewable energy projects. As markets open worldwide, an appreciation of the ongoing technological developments in all aspects of renewables will assist in wise investment decisions.

There are many types of renewable energy; all have different benefits and downsides in different circumstances. This distance education course takes a thorough and unbiased look at each type, explaining technologies, geographic applicability and market opportunities. It gives you the insight needed to understand the complex drivers and issues behind the viability of renewable and alternative energies.

This programme is ideal for anyone looking for a comprehensive understanding and increased knowledge of renewable and alternative energies - and is particularly suitable for commercial, technical, financial, planning, legal and educational professionals. The course content includes:

Renewable Energy: Analysis of Science, Markets, Drivers of Demand and Growth
• Understanding energy
• Energy and power; their units and relationships
• Energy supply examples
- Variation of supplies by country
- Similarity of functions by country
• Why we need energy
• Classification, definitions and impacts of energy types
- Fossil fuels
- Nuclear
- Renewables
• Renewable energy in the environment
- Different forms
- Energy fluxes and availability
- The ‘big three’: solar, wind, biomass
- The other renewables
• Uses of renewable energy with examples
- Power and electricity
- Heating
- Transport
• Drivers of renewable energy demand
- Pros and cons of renewable energy
- Bio-carbon and fossil-carbon (excess fossil-carbon emissions, climate change)
- Fossil-carbon reduction, obligations and trading
- Depletion of traditional energy sources e.g. peak oil
- Energy security
- Institutional factors, portfolio standards, obligations, certificate trading, feed-in tariffs, etc.
• Electricity delivery
- Liberalised market structure, microgeneration
• Market growth in renewables
• Energy efficiency

Solar for Heat and Electricity: Technologies and Implementation
• Solar radiation
• Solar water heating
- The technologies
- The markets
• Solar-conscious buildings
- Orientation and design
- Passive solar heat (thermal capacity, insulation)
- Solar cooling
• Concentrated solar thermal power
- Principles
- Implementation
• Photovoltaic (PV) electricity
- Elementary theory
- Technologies
- PV modules and integrated systems
• Ground and air sourced heat pumps




Wind Energy: from Onshore and Offshore to Small Scale; Impacts and Challenges
• Introduction to wind energy
- International market growth
• Wind meteorology
• Wind turbine technology
- Mechanical and aerodynamic criteria
• Electricity generation
• Onshore
- Applications
- Local grid connection
• Offshore
- Applications
- National grid connection
• Small-scale
- Stand-alone
- Individual grid connection
• Environmental impact
- Visual, sound, ecological etc.
• Challenges e.g. variability, planning process

Biomass: Technologies for Heat, Electricity and Transport
• Biocarbon and climate change
• Photosynthesis
- Research and development
- Simulation and nanotechnology
• Biomass classification, yield and production
• Thermochemical processes
- Direct combustion
- Fuelwood, wastes
- Pellet and chip stoves and burners
- Co-firing
- Biofuels (solids, liquids, gases)
- Pyrolysis and gasification
- Biodiesel
• Biochemical processes
- Aerobic and anaerobic digestion
- Biogas; landfill and sewage gas
- Fermentation, bioethanol
• Agrochemical processes
• Biofuels for transport (biodiesel, bioethanol)
- Engines and mixed fuel (e.g. Brazil flexifuels and engines)
• Research and development (e.g. cellulosic ethanol, microbial fuel cells)

The Other Renewables: Hydro, Marine, Geothermal and Beyond
• Hydropower
- The Earth’s hydrologic cycle
- Energy transformation in hydropower
- From waterwheels to modern turbines
- Small hydro installations
- Pumped hydro storage
- International hydroelectric power capacity
- Environmental impact
• Wave power
- Wave power analysis
- Wave energy devices
• Tidal range power
- Tidal rhythms and enhancement
- Tidal range power plants
• Tidal current/stream power
- Technologies
• Geothermal power
- Classification of geothermal heat sources and supplies
- Enhanced Geothermal Systems (EGS) and Hot Dry Rock (HDR)
• Other renewable energy technologies and possibilities
- Solar ponds
- Ocean thermal energy
- Osmotic pressure energy conversion

Storage, Distribution, Market Mechanisms and Regulation
• Introduction to energy storage and integrating new renewables
- Thermal and phase change storage principles
• Types of energy storage
- Chemical (fuel cells, hydrogen)
- Mechanical
- Electrical
• Electricity systems and regulation (transmission, distribution, microgeneration etc.)
• Institutional factors and regulation
- Government and consumer motivation
• Financial support mechanisms
- Taxation policies
- Research, development and demonstration (RD&D)
- Quotas and certificates
- Feed-in tariffs (FITs)
• Environmental impact
• External costs
• Renewables in the future

For a full course outline, download the Fundamentals of Renewable & Alternative Energy brochure

http://www.informaglobalevents.com/event/renewable-energy-distance-learning/Course-content

Country Ranking

The Renewable Energy Olympics

Country Ranking


See the global leaders in the production of renewable energy / Credits: Allianz

The Renewable Energy Olympics

See the global leaders in the production of renewable energy. (Source: Allianz)

Thứ Bảy, tháng 8 20, 2011

Thăm hồ Balaton - Hungary


Hôm nay 20/8/2011 là Ngày Quốc Khánh nước Cộng Hòa Hungary, tôi lại chợt nhớ đến những kỷ niệm của gần 4 năm nghiên cứu sinh ở xứ sở xinh đẹp này (1970 -1973).Trong thời gian đó tôi đã được đi tham quan hầu hết các thành phố và tỉnh lỵ của Hungary theo chương trình giới thiệu nước Hung cho các du học sinh do Viện Hàn Lâm Hungary tổ chức vào dịp nghỉ hè hàng năm. Thời gian đó tôi cũng đã được đến tham quan và tắm vài lần ở Hồ Balaton nổi tiếng của Hung, mà hàng năm cứ vào dịp hè có hàng triệu du khách quốc tế đến đây.Cuối năm 2005 chúng tôi lại có dịp trở lại thăm nước Hungary, vì thời gian ngắn nên tôi chỉ có thể ở thủ đô Budapest 4 – 5 ngày, tham quan thành phố “Paris “ nhỏ ở Trung Âu và không quên dành thời gian đi thăm lại hồ Balaton. Sáng đi tầu điện ra quảng trường Moskva mua vé đi tầu hỏa đến Balaton, chiều lại trở về Budapest. Trong chuyến đi này tôi lại có dịp gặp gỡ các bạn Hung và nói chuyện vui vẻ sau trên 30 năm xa cách nước Hung.Lúc này nước Hung đã gia nhập Liên minh EU, và nghe nói đời sống chung cũng chưa cao lắm, vì giá trị của đống Forint không còn cao so với đồng Euro.Tới Balaton sau khi tham quan dọc một phần bờ hồ, chúng tôi tìm được một quán ăn ven hồ, thưởng thức lại món xúp cá (halászlé) nổi tiếng của Hung và uống rượu vang chế biến ở Balaton, thế mà khi trả tiền cũng sững sờ vì giá đắt ngang bằng lương 1 tháng của nghiên cứu sinh ( 1000 Forint) những năm 70.








Mặc dù không có biển, nhưng Hungary là xứ sở có nhiều sông hồ, trong số đó, nổi tiếng nhất là dòng sông xanh Danube và hồ Balaton, thường được gọi là "Biển Hồ" của nước Hung.

Nằm cách thủ đô Budapest chừng 100 cây số về hướng Tây Nam, Balaton chẳng những là hồ lớn nhất trong số hơn 1.200 hồ lớn nhỏ tại Hung, mà còn là hồ có diện tích rộng nhất của vùng Trung Âu. Cái tên Balaton ngày nay xuất phát từ chữ "blato", tiếng Slave cổ có nghĩa là đầm lầy. Với diện tích gần 600 km2, dài 78 km, rộng từ 1,3-12,7km, độ sâu trung bình 3-3,6m, điểm sâu nhất 12,5m, Balaton trở thành trung tâm nghỉ ngơi và giải trí của nước Hung từ thế kỷ XVIII, XIX. Hàng năm, tại vùng hồ, trung bình có 2.000 giờ nắng, tạo nên nhiệt độ mùa hạ ở hồ là 25-27 độ, khiến Balaton cũng là nơi nghỉ mát, tắm, và bơi được ưa chuộng nhất vùng Trung Âu








Balaton và vùng lân cận là là khu nghỉ mát sơn thủy hữu tình nổi tiếng nhất, cũng như là địa điểm du lịch được khách nước ngoài ưa chuộng nhất của nước Hung, sau thủ đô Budapest. Tại đây, du khách vừa có thể nghỉ ngơi, giải trí, ngâm mình tắm ven hồ, hoặc tham gia các chuyến du lịch sinh thái ở các khu rừng rậm lân cận để có cảm giác gần gũi thiên nhiên, cũng như, tim hiểu những di tích lịch sử, văn hóa, những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Hung. Tại vùng quanh hồ, có rất nhiều bảo tàng ngoài trời ghi dấu ấn xưa và nay, những thành quách, nhà thờ, tu viện từ thời Trung cổ, mà nổi tiếng nhất là tu viện dòng tu Beneditine từ thế kỷ XII, được đưa vào danh sách di sản văn hóa thế giới của UNESCO, cũng như những khu cư dân, làng bản được bảo tồn y hệt như mấy trăm năm về trước, để du khách tìm hiểu cuộc sống và sinh hoạt của người dân cách đây vài thế kỷ.








Trời nóng nghỉ ăn kem ở Balaton

Xin điểm qua một vài địa danh rất đáng chú ý quanh hồ Balaton, là những "vệ tinh" mà du khách không thể bỏ qua khi tới nghỉ ngơi thăm thú ở vùng hồ.

Rất đáng kể là lâu đài cổ Festetics tuyệt đẹp tại thị trấn Keszthely gần Balaton, được xây vào năm 1745 với cả thảy 100 phòng, đứng thứ tư trong số các lâu đài cổ ở Hung, từng là nơi cư ngụ của dòng họ quý tộc Festetics giàu có nổi tiếng ở Hungary, là nơi thu hút nhiều du khách ngoại quốc


Festetics - Keszhely

Gần Keszthely, có hồ nước nóng tự nhiên Hévíz rất được ưa chuộng, nước khoáng trong hồ và lớp bùn đen dưới đáy hồ có tác dụng trị bệnh phong thấp và những bệnh liên quan đến hệ thần kinh; tác dụng chữa bệnh của nước hồ này đã được phát hiện từ năm 1730. (Cần nói thêm là trên khắp đất nước Hungary - đặc biệt là một số vùng gần hồ Balaton - có rất nhiều hồ hay suối nước nóng, trong đó một số có chứa sẵn khoáng chất. Từ hàng ngàn năm nay, tổ tiên người Hung đă tin rằng việc ngâm mình trong nước khoáng có tác dụng trị bệnh. Đặc biệt, mỗi loại nước khoáng ở Hung có đặc tính chữa một loại bệnh riêng biệt nào đó. Ví dụ như, nước khoáng ở Hajdúszoboszló - một thị trấn nổi tiếng với những "thủy cung", công viên nước - có tác dụng làm cho các vết mổ mau lành. Ngoài ra, cũng có những loại nước khoáng dành cho những người gặp những vấn đề về bệnh phổi, bệnh viêm khớp, v.v...)


Héviz

Rảo bước qua bờ Bắc của Balaton, du khách tới Balatonfüred, được phong danh hiệu "thành phố nghỉ mát chữa bệnh" đầu tiên trên nước Hung, đồng thời, vì nền văn hóa rượu vang nổi tiếng, còn được danh hiệu "Thành phố Quốc tế của Nho và Rượu". Thành phố rất quan trọng này của du lịch Balaton, không những được lưu tâm có có phong cảnh rất nên thơ, mà còn nổi tiếng với dạ hội Anna được tổ chức thường niên vào mùa hè kể từ năm 1825.


Balatonfured

Đến Tihany, nơi hẹp nhất của hồ Balaton và có thể đi phà qua bờ bên kia, chúng ta được chứng kiến một thị trấn mang ý nghĩa lịch sử tôn giáo và Giáo hội đặc biệt, với tu viện xây từ năm 1055 và tờ quyết định xây dựng tu viện này là văn bản cổ nhất của Hungary, cũng như với vô số nhà thờ, bảo tàng... xây theo trường phái Baroque từ thời Thổ Nhĩ Kỳ còn xâm chiếm nước Hung.


Phong cảnh Tihany

Balaton còn là địa điểm mà những người mê câu cá rất ưa chuộng, với loại cá măng nhỏ, dưới 1 cân rưỡi, thích hợp cho các món rán đặc sản của vùng Balaton, cũng như chép có vị đặc biệt, dùng để nấu món xúp cá (halászlé) nổi tiếng của Hung. Quanh hồ Balaton là những vùng quê trồng nho, với những ruộng nho bạt ngàn và những thương hiệu rượu nho rất nổi tiếng ở Hung như Boglár, hay là Kőröshegy.








Bên bát xúp cá (halaszlé) kiểu Balaton, đặc sản của Hungary

Balaton cũng được du khách biết đến như nơi tổ chức những sự kiện thể thao sông nước lớn vào mùa hạ, như bơi vượt hồ, đua thuyền, hoặc những chuyến du lịch chuyên đề như tìm hiểu sông nước, ẩm thực vùng ven hồ, hoặc đi vào các hầm rượu tìm hiểu cách chế rượu nho. Cái hay là không ít du khách nước ngoài đã chọn phương án rất dân dã và ít tốn kém là thuê nhà của dân địa phương, để được dịp tìm hiểu cuộc sống của dân Hung và nghệ thuật ẩm thực của nước Hung trực tiếp qua những bàn tay nội trợ của chủ nhà mến khách.








Chụp ảnh ở Tihany

Lần lại lịch sử, trong thập niên 50-70 thế kỷ trước, mấy chục năm trước ngày nước Đức thống nhất và Hung còn là một nước XHCN, chính tại vùng hồ Balaton, người dân hoặc các gia đình Đông và Tây Đức đã cò dịp gặp gỡ, hàn huyên, mừng tủi vì vận nước chia cắt. Đến giờ, dân du lịch Đức, đa phần là các ông bà về hưu, khi xuống Balaton, vẫn còn hồi tưởng đến thời kỳ đó như những ngày tháng đẹp đẽ của họ.

Thời gian đến đây, cho dù thời tiết thất thường, nhưng cái nóng nực của mùa hạ đã đến Hungary rất sớm, khiến ở vùng hồ Balaton, đến nay, nhiều gia đình đã treo biển "Hết chỗ", chứng tỏ sự quan tâm và sức hấp dẫn của Balaton chưa hề thuyên giảm, cho dù trong vùng Trung Âu, ngày càng nhiều những điểm du lịch đang chờ đợi khách thập phương mỗi dịp hè về...

Tạm biệt Balaton để trở về Budapest!!!!

Thứ Ba, tháng 8 16, 2011

Nhiên liệu sinh học

Tin Tham Khảo :

Các nhà hoạt động môi trường của tổ chức Hòa bình Xanh – Greenpeace, vừa công bố kết quả một công trình nghiên cứu, trong đó đã đặt nghi vấn cho ưu thế chính của nhiên liệu sinh học là an toàn đối với môi trường.

Triệt hạ cỏ dại, cây bụi để trồng cây nhiên liệu sinh học đã làm tăng lượng khí thải CO2

Nếu tin vào kết luận của Greenpeace thì xăng sinh học chế từ cây cỏ, làm hại cho môi trường còn kinh khủng hơn so với nhiên liệu truyền thống được lọc từ dầu mỏ.

Công trình nghiên cứu của Greenpeace dựa trên số liệu của Braxin, Inđônêxia, Mỹ và các nước Liên hiệp Châu Âu (EU) vốn là những nơi trồng nhiều hạt cải dầu, cọ, đậu tương, ngô, mía, sắn để chiết xuất thành xăng. Nhiên liệu sinh học được chế ra từ dầu thực vật đã qua xử lý bằng methanol hay ethanol. Nhiên liệu sinh học có thể được dùng ở dạng nguyên chất hoặc trộn với dầu diesel thông thường.

Tại Châu Âu xăng sinh học được khuyến khích bằng các biện pháp hành chính: tỷ lệ nhiên liệu sinh học tối thiểu trong dầu diesel thông thường được quy định bằng pháp luật và mỗi năm một tăng. Hiện tại nhà cung cấp dầu diesel buộc phải pha trộn diesel từ dầu mỏ với ít nhất 5,75% nhiên liệu sinh học.

Tổ chức Greenpeace lưu ý rằng để trồng cây nhiên liệu cho xăng sinh học thì khắp nơi trên thế giới người ta đã chặt phá hàng trăm hec-ta rừng khiến cho khí thải CO2 tăng cao. Từ đây mà có hiệu ứng khí hậu tiêu cực được nhắc đến trong công trình nghiên cứu của Greenpeace. Bản thân các đồn điền trồng cọ hay đậu tương không bù đắp được sự thiệt hại từ việc phá rừng. Tại Châu Âu việc triệt hạ cỏ dại, cây bụi để trồng cây nhiên liệu sinh học đã làm tăng lượng khí thải CO2 lên 56 triệu tấn, tương ứng với lượng khí thải hàng năm của 20 – 26 triệu xe ô tô chạy bằng xăng.

Để so sánh thiệt hại từ việc đốt cháy nhiên liệu thông thường với thiệt hại từ xăng sinh học ta lấy lượng khí thải CO2 từ xe Volkswagen Golf (chạy 100 km hết 8,8 lít xăng) làm chuẩn. Nếu chiếc xe này vượt qua quãng đường 300 m bằng nhiên liệu chiết từ dầu cọ thì nó nhả vào khí quyển chỉ 35 g khí thải chứ không phải 74 g như khi chạy bằng dầu diesel tinh lọc từ dầu mỏ. Nhưng nếu cộng vào đây hiệu ứng từ việc phá rừng thì sau quãng đường 300 m chạy bằng nhiên liệu sinh học lượng khí thải độc hại mà động cơ nhả ra sẽ lên tới 89 g. Như vậy là xăng sinh học độc hơn xăng thông thường!

Các tác giả của công trình nghiên cứu có thiện cảm hơn đối với nhiên liệu sinh học ethanol. Đây là cồn ethanol được chiết ra từ cây mía hoặc ngô. Ethanol có thể được pha thêm xăng thông thường hoặc được dùng nguyên chất để chạy xe.

Vladimir Chuprov, Giám đốc Chương trình năng lượng Greenpeace tại Nga, giải thích rằng kết luận chính của công trình nghiên cứu nói trên không phải là để phủ nhận nhiên liệu sinh học mà lưu ý tới cách tiếp cận hợp lý trong việc thay thế xăng thông thường

Ông nói: “Từ góc độ khí hậu thì sản xuất nhiên liệu sinh học không phải là vô hại, nhưng có thể giải quyết vấn đề này. Đối với hệ sinh thái thì so với dầu cải và dầu cọ dĩ nhiên nên chọn ethanol sinh học và khí sinh học hơn”.

Greenpeace cho rằng đối với riêng Nga, Canađa và Braxin thì lãnh thổ rộng lớn cho phép trồng nhiều cây nhiên liệu mà không làm tổn hại đến sinh quyển.

Chuprov cho biết: “Ở Nga đất canh tác bị bỏ hoang tới 40 – 60 triệu ha, mà đó là con số chính thức, có thể trồng trên đó các loại cây phát triển nhanh để chế khí sinh học hay cồn ethanol, mỗi ha thu được 10 tấn nhiên liệu. Nhân lên 40 triệu ha thì ta có 500 triệu tấn nhiên liệu. Cả nước Nga cũng chỉ dùng tới 1 tỷ tấn mà thôi”.

Mặc dù ở Nga vấn đề nhiên liệu sinh học không cấp thiết như ở các nước EU song việc nghiên cứu theo hướng này cũng đang được thực hiện. Vladimir Volodin, Giám đốc Phòng Thí nghiệm Hóa sinh và Công nghệ sinh học thuộc Viện Sinh học Komi, cho biết rằng các nhân viên của ông đang thử nghiệm trồng vi tảo đơn bào.

Vi tảo cũng là nhiên liệu sinh học, nó có thể thay cho các loại nông sản nhưng không cần đất trồng. Có thể nuôi vi tảo tại các hồ nước chuyên dụng và tỷ lệ năng lượng của loại thực vật này cũng khá lớn. Tuy nhiên, ở Nga việc chuyển sang nhiên liệu sinh học chưa phải là vấn đề của hôm nay mà cũng chưa phải của ngày mai.

Các chuyên gia cho rằng nhiên liệu sinh học có độ axit cao, còn chất este chứa trong đó có thể gây hại cho động cơ, trong khi đó việc tinh lọc lại quá đắt đỏ.

Các nhà sản xuất nhiên liệu cũng chưa quan tâm tới xăng sinh học. Dmitry Dolgov, đại diện chính thức của đại gia dầu mỏ Lukoil, nhấn mạnh: “Hãng chúng tôi hiện chưa sản xuất nhiên liệu sinh học và cũng chưa nghiên cứu việc này. Tại EU có đòi hỏi phải pha 5,75% nhiên liệu sinh học vào dầu diesel thông thường. Ở Nga chưa có luật như vậy, do đó mà thị trường cũng không có. Song Nga đang chuẩn bị gia nhập WTO nên rõ ràng sớm hay muộn cũng sẽ xuất hiện những đòi hỏi như vậy”.

(theo Izvestia.ru)

Thứ Tư, tháng 8 10, 2011

Thăm tháp nghiêng Pisa - Italy


Trong thời gian du lịch nước Ý, chúng tôi không quên đến tham quan tháp nghiêng nổi tiếng Pisa.Từ thành phố Florence đến thành phố Pisa trời nắng to và khí hậu nóng bức như ở VN, theo sự hướng dẫn của anh Dũng vừa là lái xe , vừa là hướng dẫn viên du lịch, chúng tôi chỉ đến quảng trường chụp ảnh khu vực xung quanh tháp Pisa, ngắm toàn cảnh hùng vĩ. Vì rất đông khách tham quan nơi này, nên cũng không thể trèo lên tháp được.



Tháp nghiêng Pisa (tiếng Ý: Torre pendente di Pisa) là một tòa tháp chuông tại thành phố Pisa (Ý) được xây dựng năm 1173. Toà tháp cao 55,86 m từ mặt đất ở phía thấp nhất và 56,70 m ở phía cao nhất. Chiều rộng những bức tường móng là 4,09 m và ở trên đỉnh là 2,48 m . Ước tính trọng lượng của nó khoảng 14.500 tấn. Tháp có 294 bậc.

Ngay trong khi xây dựng, người ta đã phát hiện toà tháp bị nghiêng. Hiện nay các biện pháp địa kĩ thuật đang được tiến hành nhằm đảm bảo độ ổn định cho tháp. Vẻ đẹp của tòa tháp cùng với độ nghiêng của nó cuốn hút khách du lịch hàng năm tới Pisa.



Tháp nghiêng Pisa là một công trình nghệ thuật, được xây dựng trong ba giai đoạn với tổng thời gian khoảng 174 năm. Việc xây dựng lầu chuông tầng thứ nhất bằng đá cẩm thạch bắt đầu ngày 9 tháng 8, 1173, một giai đoạn của sự thịnh vượng và những thắng lợi quân sự. Tầng này được bao quanh bởi những cột có đầu cột kiểu cổ điển đỡ các vòm rèm. Ngày nay sau thời gian hàng thế kỷ cùng những ảnh hưởng thời tiết chúng vẫn còn nguyên vẹn.


Nguồn gốc Tháp nghiêng Pisa

Ngôi tháp nổi tiếng được xây dựng để cho cả thế giới thấy được sự thịnh vượng của thành phố Pisa, Italy. Người dân Pisa là những thủy thủ thiện nghệ, họ đã chinh phục được nhiều vùng đất, từ Jerusalem tới Carthago, Ibiza, Mallorca, châu Phi, Bỉ, Anh, Nauy, Tây Ban Nha và nhiều nơi khác.

Họ chỉ có một đối thủ thực sự duy nhất, đó là Florence( cũng là 1 tỉnh của Italy). Và để cho những kẻ cứng đầu này biết dân Pisa đã làm được gì, họ bắt đầu xây dựng một tháp chuông, để tương xứng với những công trình xung quanh đó như nhà thờ, nơi rửa tội và nghĩa địa.



Phần chân tháp được khởi công vào năm 1173. Sau đó, cuộc chiến với Florence tái diễn và công việc thi công bị đình trệ. Năm 1180, mọi việc được bắt đầu lại. 5 năm sau đó, tầng 1, tầng 2, rồi tầng 3 được hoàn tất.


Năm 1319, tất cả các tầng được hoàn tất. Quả chuông trên đỉnh tháp được treo vào năm 1350.

Lần đầu tiên trong 800 năm, Tháp nghiêng Pisa ngừng nghiêng

Lần đầu tiên kể từ thế kỷ 12, Tháp nghiêng Pisa - biểu tượng của đất nước Italia và là một trong những điểm du lịch hấp dẫn nhất thế giới, cuối cùng cũng đã ngừng chuyển động và sẽ vẫn an toàn trong 300 năm tới.

Cách đây 18 năm, Tháp nghiêng Pisa cao 56 mét đã bị đóng cửa đối với du khách do lo ngại nó có thể đổ sập. Nhưng các nỗ lực cứu toà tháp bớt nghiêng đã thành công nhờ một dự án trị giá 40 triệu USD.

“Những kỳ vọng của chúng tôi đã được chứng minh. Giờ đây chúng tôi có thể khẳng định rằng Tháp nghiêng Pisa sẽ không chuyển động nữa trong vòng ít nhất là 300 năm tới”, Michele Jamiolkowski, một nhà thiết kế tại thành phố Turin và là trưởng dự án bảo vệ toà tháp, cho biết.

Phải mất 10 năm, các chuyên gia mới làm ổn định được toà tháp. Hiện nay, Tháp Pisa nghiêng 4m so với chiều thẳng đứng. Kể từ năm 1999, toà tháp lừng danh đã được kéo thẳng 37cm.

Trong số các các công đoạn của dự án có việc neo toà tháp với các dây cáp, di chuyển 77 tấn đất từ bên trái để kéo lại toà tháp vốn nghiêng về bên phải.


Nhiều năm liền, Pisa từng được công nhận là toà tháp nghiêng nhất thế giới trong sách kỷ lục Guinness .

Năm 1987, tháp nghiêng Pisa và quần thể các thánh đường, nhà thờ và nghĩa trang cạnh đó được UNESCO đưa vào danh sách Di sản Thế giới.

Tháp Pisa tại Italia từ lâu vốn nổi tiếng thế giới bởi độ nghiêng. Nhưng sự ra đời của Capital Gate với độ nghiêng gấp hơn 4 lần so với Tháp nghiêng Pisa


Công trình gồm 35 tầng, cao 160m.

Sách các kỷ lục Guinness thế giới mới đây đã công nhận toà nhà Capital Gate ở Abu Dhabi thuộc Các Tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất là tháp nghiêng nhất thế giới với độ nghiêng 18 độ, tức gấp hơn 4 lần so với công trình nổi tiếng ở Italia. Độ nghiêng của tháp Pisa là 3,97 độ.

Tuy nhiên, nếu Pisa nghiêng tự nhiên thì Capital Gate lại được cố tình xây dựng để nghiên sang một bên. Công trình gồm 35 tầng này được thiết kế bắt đầu nghiêng kể từ tầng 12 trở đi. Tính tới tầng 35, tháp này nghiêng so với trục thẳng đứng của toà nhà 18 độ.ài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ




Thứ Ba, tháng 8 09, 2011

Nuclear power plant enters service in China


Aug 8, 2011

The 1,080 MW Unit 2 at China's Ling Ao II nuclear power plant entered commercial operation on August 7, according to plant owner China Guangdong Nuclear Power Co. (CGNPC).

The unit is a Chinese-designed CPR-1000 pressurized water reactor (PWR) that achieved first criticality on February 25 and was connected to the grid on May 3.

The unit is China's 14th operating nuclear power reactor and the second CPR-1000 to start up after Ling Ao II Unit 1, which entered operations in September 2010.

The CPR-1000 design, along with Westinghouse's AP1000 PWR, is a mainstay of China's planned near-term nuclear capacity expansion, with 17 CPR-1000s already under construction. Work is planned to begin on at least five more in 2011.

Subscribe to Nuclear Power International magazine

Thứ Năm, tháng 8 04, 2011

Thăm Florence - Italy





Trong thời gian đi thăm nước Italy, chúng tôi không quên ghé thăm thành phố Florence ( tiếng Ý là Firenze) là thành phố của nghệ thuật thời Phục Hưng .

Florence là thủ phủ của vùng Tuscany và tỉnh Florence nằm bên bờ sông Arno của Ý. Thành phố hàng ngàn năm tuổi này được xem là cái nôi của phong trào Phục Hưng châu Âu với thành tựu rực rỡ về hội họa và kiến trúc.Năm 1982, trung tâm lịch sử của Florence được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của thế giới. Florence còn được tạp chí du lịch uy tín Travel Leisure bình chọn “thành phố du lịch tốt nhất thế giới” năm 2007.



Thành phố Florence.




Năm 50 trước Công nguyên khi những người lính của hoàng đế La Mã Cesar bắt đầu dựng doanh trại ở đây, có thể coi là cột mốc đánh dấu sự ra đời của Florence . Nằm giữa con đường nối liền Thủ đô Rome với miền Bắc nên đô thị này sớm trở thành một trung tâm chính trị và thương mại quan trọng của nước Ý. Vào thế kỷ XIII, hoạt động văn học nghệ thuật ở Florence phát triển rực rỡ dưới sự bảo trợ của gia tộc Medicis đầy quyền lực. Những thành tựu hội họa và kiến trúc ở Florence gắn liền với tên tuổi của những nghệ sĩ lừng danh như Michelangelo, Leonardo de Vinci, Raphael... Florence đã từng là thủ đô của Vương quốc Ý từ 1865 đến 1871 trước khi thủ đô được dời về Rome. Ngày nay trung tâm của thành phố với nhiều nét kiến trúc từ thời trung cổ như đường sá nhỏ hẹp được lát đá, những ngôi nhà nhỏ xinh xắn được lợp ngói đỏ còn giữ được khá nguyên vẹn.

Florence sở hữu gần một nửa số công trình kiến trúc cổ và các tác phẩm nghệ thuật của Ý. Du khách có thể bắt đầu khám phá Florence từ quảng trường Piazza San Giovanni- trung tâm tôn giáo tiêu biểu nhất của thành phố với cụm ba công trình kiến trúc tôn giáo đỉnh cao: nhà thờ lớn Santa Maria del Fiore, tháp chuông Giotto’s Campanile…..

Nhà thờ lớn Santa Maria del Fiore được khởi công từ năm 1296 theo lối kiến trúc Gothic, đến năm 1436 mới cơ bản hoàn thành, gồm hai phần: giáo đường phía trước bằng đá cẩm thạch nhiều màu và tòa nhà mái vòm phía sau với phần mái vòm được xây bằng gạch đỏ. Ngôi giáo đường rộng 38 mét, dài 153 mét, gồm một gian lớn chính ở giữa và hai gian bên, hợp thành hình một cây thánh giá.. Nhà thờ Santa Maria del Fiore còn nổi tiếng với 44 cửa sổ kính đổi màu- bộ kính đổi màu lớn nhất của Ý thế kỷ XIV-XV.



Nhà thờ Santa Maria del Force

Cạnh nhà thờ Santa Maria del Fiore là tháp chuông Giotto’s Campanile đứng riêng lẻ cao 85 mét. Tháp gồm năm tầng trang hoàng với rất nhiều tượng bằng gốm sứ. Tháp chuông do nghệ sĩ Giotto bắt đầu xây dựng năm 1334 và được Francesco Talenti hoàn thành ba tầng trên cùng năm 1359. Những cửa sổ rất cao ở mỗi tầng tạo nên nét thanh thoát cho tháp chuông. Toàn bộ tác phẩm nghệ thuật ở tháp chuông đã được chuyển vào bảo tàng Opera del Duomo từ năm 1965 đến 1967. Những tác phẩm nghệ thuật hiện tại ở tháp chuông chỉ là các vật mô phỏng.



Tháp chuông Giotto Campanile

Florence có rất nhiều viện bảo tàng và phòng triển lãm nghệ thuật nằm trong các dinh thự cổ kính. Các nơi này lưu giữ rất nhiều tác phẩm tranh, tượng điêu khắc, những bức bích họa và phù điêu đặc sắc. Nổi tiếng hơn cả là Viện Hàn lâm nghệ thuật Accademia Gallerry trưng bày những bộ sưu tập hội họa lớn từ thế kỷ XIII-XVIII của những nghệ sĩ lừng danh thế giới như Michelangelo, Leonard de Vinci, Raphael, Titren... Accademia Gallerry ngày nay thu hút rất đông khách du lịch đến chiêm ngưỡng bức tượng điêu khắc David, kiệt tác của Michelangelo.



Bức tượng khỏa thân bằng cẩm thạch, cao 5 mét mô tả chàng trai David trong Kinh Thánh trước khi đi đánh người khổng lồ Goliath, đạt đến tuyệt đỉnh của nghệ thuật điêu khắc. Michelangelo mất 3 năm để hoàn thành bức tượng, khi ông 29 tuổi. Hiện nay tượng David còn một phiên bản bằng đồng cũng cao 5 mét đặt tại quảng trường Michelangelo, nơi đặt bức tượng này trước khi được dời về Viện Hàn lâm nghệ thuật.



Chụp dưới tượng David ở quảng trường

Du khách không thể bỏ qua khi ở Florence là thăm cây cầu cổ Ponte Vecchio - một trong những cây cầu đẹp nhất bắc ngang sông Arno. Ponte Vecchio được xây bằng đá từ thời La Mã. Sau trận lụt năm 1333, cầu được xây dựng lại và định hình cho đến nay. Ponte Vecchio độc đáo ở chỗ hai bên thành cầu có những shop nhỏ bán đồ trang sức và tượng điêu khắc. Trên mặt cầu có một hành lang với mái che. Du khách có thể đứng giữa cầu ngắm cảnh hai bên bờ sông Arno và những tòa tháp cổ kính vượt lên trên mái ngói những ngôi nhà nhỏ xinh xắn.




Cầu Ponte Vecchio

Qua cầu Ponte Vecchio, du khách sẽ đến bờ trái sông Arno nơi có vô số xưởng sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, các nhà hàng truyền thống và quán rượu. Du khách có thể ghé công viên Boboli, một trong những công viên đẹp nhất nước Ý với rất nhiều tượng điêu khắc, vòi phun nước, và một đấu trường hình vòng cung. Tiếp đó, du khách có thể thăm các phòng trưng bày nghệ thuật và viện bảo tàng trong cung điện Pitti gần công viên với rất nhiều tác phẩm hội họa và điêu khắc của các nghệ sĩ tên tuổi.



Cổng vào công viên Boboli


Cung diện Pitti

Chúng tôi ngủ lại một đêm ở Florence để sáng mai trở về Rome


( Tham khảo thêm Internet )

Thứ Hai, tháng 8 01, 2011

Thiên nhiên hoang dã quanh nhà máy hạt nhân Chernobyl

Sau thảm họa hạt nhân 1986, không còn bóng dáng con người, khu vực quanh Chernobyl trở thành nơi sinh tồn và phát triển của một thế giới động thực vật.

Từ sau thảm họa hạt nhân, dân cư ở khu vực có phạm vi 30 km quanh nhà máy điện hạt nhân Chernobyl đều đã rời đi. Các khu vực cấm và nhiễm phóng xạ giờ là một thế giới thiên nhiên hoang dã.
Các động vật, đặc biệt là chim, biến các tòa nhà trống trong vùng thành "nhà" của mình. Nhiều nhà sinh thái học cho biết sự biến mất của con người đã dần dần tạo ra sự đa dạng sinh học quanh Chernobyl. Tuy nhiên, một nhóm các nhà nghiên cứu cũng nói rằng có những bằng chứng cho thấy ô nhiễm phóng xạ tạo nên những ảnh hưởng ngầm đối với thiên nhiên nơi đây.
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành nhiều cuộc khảo sát tại rừng Đỏ và kết luận một vài nơi tại đây có mức nhiễm xạ cao. Geir Rudolfsen thuộc Cơ quan bảo vệ phóng xạ Na Uy, nghiên cứu khả năng sinh sản của loài chim, cho biết các cánh rừng đều khá yên tĩnh.
Nhóm nghiên cứu tạo ra những cái tổ giả để thu hút chim. Trong hình là giáo sư Boratynski đang thực hiện một đo độ phóng xạ ở vị trí ông đặt bẫy chim.
Tại khu trại dã chiến, Tim Mousseau and Anders Moller, các nhà khoa học dẫn đầu cuộc nghiên cứu này, đang tiến hành đo cân nặng, lấy mẫu máu cho những con chim họ bắt được ở các bẫy.
While travelling around, the team catches a glimpse of a herd of wild Przewalski's horses that were released into the exclusion zone in 1998. The hope was that the Critically Endangered horses would thrive in this human-free landscape. They are breeding, but scientists in Ukraine say they are now under threat from poaching.
Một chú ngựa Przewalski bị bỏ lại trong khu vực nhiễm xạ năm 1998. Loài ngựa này được hy vọng sẽ phát triển mạnh trong khu vực không có bóng dáng của con người này. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn lo ngại chúng là mục tiêu của nạn săn trộm.
Nhóm nghiên cứu cũng làm việc tại một số khu vực trong phạm vi dưới 1 km quanh nhà máy hạt nhân. Các nhà nghiên cứu cho biết có ít động vật sinh sống ở các khu vực nhiễm xạ hơn khu vực không bị ảnh hưởng.
Tại Kopachi, một trong những ngôi làng gần nhất với nhà máy hạt nhân, một nhà trẻ đã bị bỏ đi là tòa nhà duy nhất còn tồn tại. Trong tòa nhà này, đồ chơi, bút vẽ, sách vẫn còn sót lại khi những đứa trẻ đi di tản.
Pripyrat là thị trấn lớn nhất ở khu vực bị bỏ đi. Hơn 50.000 người đã di tản khỏi nhà của mình để tránh nguy hiểm từ thảm họa hạt nhân. Hiện nay, rất khó để xác định giới hạn của thị trấn này và vùng ngoại ô quanh nó.
Đu quay Ferris nổi tiếng của Prippyat không còn được sử dụng nữa. Công viên của thị trấn cũng chỉ mới mở vài ngày trước khi thảm họa xảy ra. Ngày nay, hầu hết khách du lịch đến thăm "thị trấn ma" này đều phải đeo mặt nạ để tránh hít phải bụi phóng xạ.

Anh Ngọc