e

Thứ Sáu, tháng 2 07, 2020

Solar panel for Night


Pin mặt trời vỡ kính vẫn phát điện bình thường


Private Investment in the VN Energy Sector: Status and Trend


                Private Investment in the Viet nam Energy Sector: Status and Trend 

Meeting the electricity requirement for a vibrant economic growth rate involves the compound annual growth rate of the electricity demand, which has been 13% since 2000; this has also resulted in the doubling of electricity consumption every six years. To keep pace with the energy demand, the electricity sector investment will need to accelerate substantially to around $8 billion–$12 billion annually for the period 2016–2030 (World Bank 2018), even if the energy mix further diversifies. Previously, over the period 2011–2015, the Vietnamese electricity sector achieved investments of $7.8 billion per year on average. This is a significant total figure within the constraints of the government budget. Over 80% of this investment has been concentrated in the power generation segment, and almost all of this has funded large coal-fired, gas-fired, and hydro-power projects. According to the government’s Revised Power Development Plan VII, the total investment needs in the power sector for the forecast period 2016–2030 are $152 billion–$185 billion, including one-third of the investment in the energy infrastructure. It is a major challenge to find a sufficient finance supply (World Bank 2018). Table 2 presents the investment growth forecasted over the period 2016–2030 compared with the previous period and based on three scenarios with regard to electricity consumption (low, medium, and high). It can be seen that, in all three scenarios, the annual investment rate growth has increased significantly for network investment. For example, during the period 2016–2020, the investment increased by 11.6% for the lowest electricity demand scenario and will remain the same amount over the period until 2030, requiring the mobilization of a huge amount of money for this sector, at least $152 billion. In terms of electricity generation, except hydro, for which the forecast is uncertain, the expectation is that the electricity sources will attract a large amount of investment. Coalfired electricity generation has an expected growth rate for annual investment of over 7% in 2016–2020, which will decrease gradually to roughly 4% by 2030. The high annual growth rate in the long term makes the total investment in coal power $75 billion–$92 billion; at the same time, the investment in renewables is likely to above 1% during the period 2016–2010 and roughly 2% by 2030. The long-term plan of the government somehow contradicts the emphasis on coal-fired electricity generation in the future, and it may put the country in an energy insecurity situation. ADBI Working Paper 1038 Dang and Taghizadeh-Hesary 6 Table 2: Investment in the Power Sector in Viet Nam’s Historical and Future Forecasted Data Average per Year in Investment Growth (%)

  To achieve the country’s climate change targets, large-scale gas developments of about 20 GW, demand side energy savings of 12 GW, and increased hydropower imports from the Lao People’s Democratic Republic of 5 GW by 2030 are necessary. If those investments are not forthcoming, imported coal will play an even greater role than currently planned. Furthermore, the balance of future investment is shifting slightly from generation toward the network infrastructure, which accounts for about a third of the total investment requirements, to keep pace with the rapid deployment of new energy generation projects, particularly renewables. Figure 4: Total Investment in the Power Sector over the Period 2016–2030 F in Generation and T&D Source: Government of Viet Nam (2016). 


The electricity sector has so far relied primarily on state-guaranteed debt to finance the bulk of its investment program through the national utility–Electricity of Viet Nam (EVN). During the period 2010–2015, EVN financed as much as 96% of its capital expenditure through debt, leading to a total debt amount of $9 billion in 2016. The Ministry of Finance backs part of EVN’s debt de facto, meaning that it is on-lent debt that it had borrowed it ADBI Working Paper 1038 Dang and Taghizadeh-Hesary 7 from a variety of IFIs, and part of the loans that EVN received directly came from a variety of domestic and international commercial banks, which the MOF backed through direct debt guarantees. Both categories of borrowing count toward public debt. In addition to the MOF, domestic commercial and private banks are major financiers of the electricity sector or EVN. Those organizations implemented borrowing typically on a corporate basis rather than a non-recourse project finance basis. Estimations show that five major banks (VCB, CTG, BIDV, TCB, and SHB) channel about 5% of the total outstanding loans to the electricity sector (World Bank 2018). However, this source of financing for the energy sector will be more limited because of the Single Borrower Limit requirement of 15% of the banks’ equity capital, which constrains the lending of many of the banks. Moreover, the sector concentration limits that banks set for prudential purposes further constrain their lending. The traditional model of depending mostly on government borrowing to finance the electricity infrastructure is unsustainable and no longer suitable. At a time when Viet Nam is strategizing substantial electricity investments, the country’s historical method of power sector funding will experience severe constraints for two major reasons. First, Viet Nam’s fiscal status has deteriorated in recent years, and the government is rapidly reaching its secured public debt threshold. With the sizable fiscal deficits in recent years, the public debt rose steeply from 51.7% of the GDP in 2010 to an estimated 63.3% of the GDP (the ceiling is 65% of the GDP) in 2016 and just reduced to 58.4% in 2018. Outstanding publicly guaranteed and on-lent debt to EVN already accounts for 4% of the GDP, and the scope to expand this further over the coming years is extremely limited given the public debt cap. In practice, this means that it will be challenging for the government to back EVN with additional funding or for EVN to borrow from commercial banks or international development finance institutions (IDFIs) with the support of a Ministry of Finance guarantee, as previously. Second, due to its recently gained middleincome status, Viet Nam has reduced access to concessional resources, particularly official development assistance (ODA) loan. As a middle-income country, it has already experienced a dramatic reduction in IDFI financing. The World Bank (2018) suggests that at least 75% of the energy investment requirement needs to come from the private sector until 2030. Currently, the private involvement in the energy sector in Viet Nam is negligible. From 1992 to 2016, Viet Nam attracted $13.8 billion to invest in infrastructure (including energy, transport, and water), of which the energy sector occupies a dominant share with $8.3 billion investment, equivalent to more than 60% of PPI capital. Notable projects in the energy sector include the Phu My 2.2 (gas build-operation-transfer (BOT) power plant, 2002), Nam Con Son gas pipeline (2002), Phu My 3 (gas-powered BOT power plant, 2003), and Mong Duong (coal-fired BOT power plant, 2011). In total, these projects accounted for 6.7 billion PPI, equivalent to 49% of the total PPI in Viet Nam in the period 1992–2016. The four projects mentioned above are in the form of BOT, foreign ownership accounts for the majority, and long-term international commercial debt and benefits from government commitments and guarantees protect the private participants but avoid some political and project-related risks, including converting the dong into US dollars and transferring it abroad. The Nam Con Son gas pipeline is the only project in the field of natural gas transmission and distribution that receives investment from the private sector ($1.3 billion)

Source : WorldBank

Thứ Năm, tháng 2 06, 2020

Pin năng lượng có thể tạo ra điện vào ban đêm mà không cần tới ánh sáng Mặt Trời

Nhờ ứng dụng nguyên lý hoàn toàn ngược lại với các tấm pin năng lượng Mặt Trời, các nhà khoa học đã tạo ra được những tấm pin có khả năng tạo ra năng lượng vào ban đêm.

Một trong những vấn đề với pin Mặt Trời là chúng không thể tạo ra điện vào ban đêm. Thay vào đó, chúng thường chỉ có thể tích điện đã tạo ra trong suốt cả ngày. Tất nhiên cách vận hành này khá hiệu quả nhưng nếu chúng ta có thể tạo ra các tấm pin có thể tạo ra điện vào ban đêm thì sao? Điều đó hoàn toàn có thể và cách nó hoạt động có thể khiến bạn ngạc nhiên.
Đã có cách chế tạo pin năng lượng có thể tạo ra điện vào ban đêm mà không cần tới ánh sáng Mặt Trời - Ảnh 1.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học California cho biết, nếu bạn muốn tạo ra một tấm pin hoạt động vào ban đêm, bạn sẽ cần phải tạo ra cơ chế vận hành hoàn toàn ngược so với pin Mặt Trời. Nó có thể coi như một tấm pin chống lại ánh sáng Mặt Trời vậy.
Các tấm pin năng lượng Mặt Trời có nhiệt độ thấp hơn nên nó có khả năng hấp thụ ánh sáng Mặt Trời và biến nó thành điện năng. Trong khi đó, không gian ngoài Trái Đất rất lạnh. Do đó nếu bạn có thể hướng tấm pin về phía nó, tấm pin có thể tỏa nhiệt dưới dạng ánh sáng hồng ngoại. Nếu biết cách nắm bắt nguồn nhiệt đó, chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra điện năng.
Theo tuyên bố của nhóm nghiên cứu, những tấm pin này có thể tạo ra được khoảng 1/4 lượng điện vào ban đêm mà một tấm pin Mặt Trời bình thường tạo ra vào ban ngày.
Jeremy Munday, giáo sư khoa Kỹ thuật Điện và Máy tính tại Đại học California đồng thời là tác giả nghiên cứu cho biết, tấm pin Mặt Trời hay pin cản ánh sáng Mặt Trời thực chất chỉ là những "động cơ nhiệt".
Đã có cách chế tạo pin năng lượng có thể tạo ra điện vào ban đêm mà không cần tới ánh sáng Mặt Trời - Ảnh 2.

Munday chia sẻ: "Bạn có năng lượng nhiệt từ Mặt Trời truyền tới Trái Đất và pin năng lượng Mặt Trời sẽ thu lấy năng lượng đó. Vì vậy về cơ bản, bạn cần hai vật thể có nhiệt độ khác nhau và một số cách để chuyển đổi nguồn năng lượng đó. Những gì mà thiết bị này vận hành vào ban đêm cũng tương tự như vậy. Chúng ta cần một cơ thể nóng như Trái Đất và một cơ thể lạnh như không gian vũ trụ. Vì sức nóng lan truyền từ Trái Đất ra ngoài không gian. Do đó chúng ta có thể lấy nguồn nhiệt đó và chuyển đổi nó thành điện năng".
Hệ thống này sử dụng pin bức xạ nhiệt để tạo ra điện, trái ngược với pin quang điện sử dụng trên các tấm pin năng lượng Mặt Trời. Trong đó một tấm pin Mặt Trời thường được làm bằng silicon, vật liệu rất hiệu quả để hấp thụ ánh sáng nằm trong quang phổ có thể nhìn thấy.
Trong khi đó với tấm pin này, nó phải làm từ một vật liệu nào đó giúp thu ánh sáng có bước sóng dài. Hiện tại Munday đang xem xét có nên sử dụng các hợp kim thủy ngân để chế tạo loại pin nhiệt điện này hay không. Nhóm nghiên cứu của Mundy cũng đang phát triển các nguyên mẫu đầu tiên của loại pin hoạt động vào ban đêm.
Đây không phải lần đầu các nhà khoa học nghĩ về một tấm pin có thể hoạt động ngay cả vào ban đêm.
Đã có cách chế tạo pin năng lượng có thể tạo ra điện vào ban đêm mà không cần tới ánh sáng Mặt Trời - Ảnh 3.

Hồi tháng 11, các nhà khoa học tại Đại học Stanford đã đăng tải một nghiên cứu trên tạp chí Jouele về một loại pin nhiệt điện có thể bức xạ nhiệt ra ngoài không gian để tạo ra điện.
Không giống các loại pin nhiệt điện truyền thống khác, thiết bị của các nhà khoa học kết hợp mặt lạnh của mô-đun nhiệt điện với bề mặt hướng lên trời. Thiết bị sẽ bức xạ nhiệt độ vào không gian lạnh lẽo và lấy nhiệt lượng từ không khí xung quanh, từ đó tạo ra điện năng.
Hệ thống pin năng lượng Mặt Trời đã có những cải tiến mạnh mẽ trong nhiều năm qua để đáp ứng nhu cầu năng lượng. Tuy nhiên nếu chúng ta có thể tạo ra một hệ thống sản xuất năng lượng sạch liên tục 24 giờ/ngày, chúng ta có thể tạo ra đươc nhiều điện năng hơn, đồng thời lưu trữ cho nhiều mục đích khác nhau, đề phòng trường hợp khẩn cấp cần dùng tới.
Nghiên cứu đã được đăng tải trên tạp chí ACS Photonics mới đây.
Tham khảo Inverse-Genk

Thứ Ba, tháng 2 04, 2020

Cứ thế này, điện gió sẽ chết

TTO - Các nhà đầu tư điện gió chịu rất nhiều thiệt thòi. Đến nay lại gặp khó khăn do bị cắt giảm công suất. Đang là mùa gió tốt, nhưng có thời điểm chúng tôi bị cắt giảm 61%.
Tại một dự án điện gió ở phía Nam - Ảnh: TRUNG HÀ
Điện gió là năng lượng tái tạo có hiệu số công suất cao, không tốn nhiều diện tích, có thể dự báo được tương đối chính xác, giúp điều độ tốt hơn. Song các nhà đầu tư điện gió lại chịu rất nhiều thiệt thòi. Sau nhiều đấu tranh, giá cũng đã tăng lên được 8,5 cent/kWh. Nhưng đến nay lại gặp khó khăn do bị cắt giảm công suất.
Nếu cứ như thế này thì các ông điện gió sẽ chết. Với Điện gió Phú Lạc do tôi đầu tư, bình quân thiệt hại 100 triệu đồng/ngày đêm.
Ông Bùi Văn Thịnh

Đơn cử như các dự án nối lưới, trong đó có 3 dự án ở Bình Thuận, Ninh Thuận đang phải chịu chung cảnh cắt giảm công suất cùng các dự án điện mặt trời trên địa bàn. Chúng tôi kiến nghị Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cố gắng đưa điện gió ra khỏi danh sách cắt giảm, hoặc cắt giảm ít vì các dự án điện gió không phải là nguyên nhân gây quá tải. Trong khi về mặt kinh tế, giá mua điện gió chỉ 8,5 cent/kWh trong khi giá điện mặt trời là 9,35 cent/kWh, chưa kể về kỹ thuật điện gió thân thiện hơn nhiều.
Chúng tôi đã nhiều lần kiến nghị và EVN đã xin ý kiến Bộ Công thương, nhưng Bộ Công thương trả lời đây là trách nhiệm của EVN và cuối cùng vẫn như vậy. Dù đã có cuộc họp tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư điện gió được EVN tổ chức trước tết, nhưng đến nay vẫn... như cũ. Đang là mùa gió tốt, nhưng có thời điểm cao nhất chúng tôi bị cắt giảm 61%, chỉ chạy được 39% vào ban ngày, còn ban đêm thì huy động được tối đa.
Đến thời điểm hiện nay, sản lượng của chúng tôi chỉ được 3 triệu kWh, trong khi cùng kỳ năm ngoái là 11 triệu kWh. Nếu cứ như thế này thì điện gió sẽ chết. Nếu vẫn tiếp diễn, sẽ phải kiến nghị tiếp tới cấp cao hơn vì đây là vấn đề sống còn. Như với Điện gió Phú Lạc do tôi đầu tư, bình quân thiệt hại 100 triệu đồng/ngày đêm cho dự án 24MW. Chúng tôi hầu như không có lãi, mà chỉ mong có nguồn tiền để trả nợ, thực tế đã có dự án vỡ nợ rồi. Tình trạng cắt giảm công suất thế này, doanh nghiệp chỉ mong tồn tại, phát triển là rất khó.
Chưa kể nhà đầu tư điện gió đang rất lo lắng khi hết thời hạn 1-1-2021 có thể sẽ không còn duy trì giá mua điện gió là 8,5 cent/kWh. Bài học điện mặt trời là quá lớn, sau 30-6-2019 gần như bị khoảng trống chính sách, không rõ giá mua được bao nhiêu, nên nhà đầu tư điện gió cũng sợ. Chúng tôi cũng lo ngại giá mua điện gió sẽ giảm, bởi với điện gió giá thành giảm không nhiều như điện mặt trời. Các tấm pin mặt trời bình quân mỗi năm giảm vài chục phần trăm nhưng nhiên liệu điện gió giá không giảm, thậm chí có thời điểm cục bộ còn tăng. Chẳng hạn như lúc này cung cầu chênh lớn, giá tuôcbin hiện nay cao hơn cách đây 1 năm.
Điện gió cũng phải sử dụng công nghệ hiện đại nhất, như phải cẩu lắp rất đặc thù, làm chi phí đầu tư điện gió nhiều hơn. Đầu tư điện gió cũng không thể làm ào ào như điện mặt trời. Với mức giá như hiện nay lợi nhuận đã không cao, còn sau năm 2021 không biết giá thế nào, nếu giảm thì thị trường điện gió không còn hấp dẫn. 10 năm nay phát triển điện gió mới có 300MW.
Chúng tôi thấu hiểu rằng EVN phải cân đối tài chính. Giá bán điện bình quân của EVN cho người tiêu dùng là 7,5 cent/kWh nhưng mua vào điện mặt trời là 9,35 cent/kWh và điện gió là 8,5 cent/kWh, nên đương nhiên càng huy động nhiều năng lượng tái tạo EVN càng lỗ. Song VN đang thiếu điện, nguồn điện rẻ là thủy điện đang cạn kiệt, năm nay lượng mưa thấp nhất 30 năm... Dù huy động năng lượng tái tạo giá cao nhưng vẫn tốt hơn mua điện chạy dầu, nên chúng tôi kỳ vọng huy động được nhiều hơn.
TheoTTO

Thứ Bảy, tháng 2 01, 2020

Dự án nhà máy điện khí tự nhiên hoá lỏng 4 tỷ USD ở Bạc Liêu

Dự án Nhà máy điện khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) công suất 3.200 MW với tổng mức đầu tư khoảng 4 tỷ USD vừa được UBND tỉnh Bạc Liêu trao quyết định chủ trương đầu tư cho Công ty TNHH Delta Offshore Energy Pte. Ltd (DOE Singapore).
Đến thời điểm hiện nay, dự án Nhà máy điện khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) Bạc liêu là dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lớn nhất tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo UBND tỉnh Bạc Liêu, những năm gần đây, được sự chỉ đạo, hỗ trợ của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương, tỉnh Bạc Liêu đã nỗ lực mời gọi đầu tư, bước đầu đã đạt được nhiều kết quả rất khả quan.
40FB877C-970E-4151-8847-F290CD2FCFE1

Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu - Dương Thành Trung cùng lãnh đạo của tỉnh Ủy, HĐND tỉnh Bạc Liêu trao Quyết định chủ trương đầu tư cho ngài Spencer Damian White, Tổng Giám đốc Điều hành Công ty TNHH Delta Offshore Energy Pte

Đặc biệt, từ sau Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Bạc Liêu được tổ chức ngày 30/1/2018, với sự tham dự, chủ trì của Thủ Nguyễn Xuân Phúc, công tác thu hút đầu tư của tỉnh đã chuyển biến mạnh mẽ, với rất nhiều nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước tham gia đầu tư nghiêm túc, bài bản, có trọng tâm, trọng điểm tập trung vào 5 lĩnh vực trụ cột của tỉnh.
Trong đó, trụ cột thứ hai về năng lượng phát triển rất sôi động, được rất nhiều nhà đầu tư quan tâm. Ngoài ra, Bạc Liêu là địa phương tiên phong về phát triển năng lượng tái tạo, cùng các lợi thế tự nhiên như: bờ biển dài, đất đai bằng phẳng, có nắng và gió quanh năm với cường độ tốt, lại ít gió bão...
Cùng với các chính sách ngày càng cởi mở của Chính phủ trong lĩnh vực năng lượng, nhất là việc Thủ tướng chấp thuận cho tỉnh Bạc Liêu rút Trung tâm Nhiệt điện Cái Cùng ra khỏi Quy hoạch Điện lực Quốc gia (Tổng sơ đồ VII) và giao cho tỉnh mời gọi các dự án nguồn điện khác thay thế, Bạc Liêu đã và đang được rất nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm, tiếp cận xin nghiên cứu, khảo sát và đăng ký đầu tư, với nhiều dự án đầu tư có quy mô lớn, có tầm ảnh hưởng, lan tỏa rất rộng.
Trong đó, ngoài các dự án điện gió ven biển, điện gió trên bờ với tổng quy mô công suất gần 4.000MW đang triển khai thi công và đang xin bổ sung vào quy hoạch thì Dự án Nhà máy Điện khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) Bạc Liêu 3.200MW được tỉnh xác định là dự án trọng điểm, tạo đột phá trong thời gian tới.
Theo chủ đầu tư, dự án được tích hợp tổng thể gồm: Nhà máy điện có tổng công suất thiết kế 3.200 MW trên diện tích 40ha tại xã Vĩnh Hậu A (huyện Hòa Bình); trạm tiếp nhận và lưu trữ nhiên liệu có diện tích nổi khoảng 100ha mặt biển (lưu trữ từ 150.000 đến 174.000m3 khí tự nhiên hóa lỏng); trạm tái hóa khí và 35km đường ống dẫn khí áp suất cao. Theo kế hoạch, đến cuối tháng 12/2020, nhà đầu tư sẽ hoàn thành khâu chuẩn bị đầu tư dự án và trong 3 năm tiếp theo triển khai việc xây lắp khu tiếp nhận, lưu trữ LNG và trạm tái hóa khí, đường đưa khí vào bờ và vận hành tổ máy tuabin khí giai đoạn 1 (750MW) vào cuối năm 2023. Sau đó, nhà đầu tư tiếp tục xây lắp và đưa vào vận hành các tổ máy còn lại của dự án để đạt đủ công suất 3.200 MW trước tháng 12/2027.
Dự án sẽ góp phần cân bằng cán cân thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, nhập khẩu thiết bị công nghệ tiên tiến và nguồn nhiên liệu khí LNG chất lượng và ổn định từ Hoa Kỳ và từ đó, giúp mở rông thị trường xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam.
Ông Ian Nguyen, Giám đốc Điều hành Công ty Delta Offshore cho biết, sự có mặt của một đội ngũ hùng hậu, đại diện cho 30 tập đoàn, tổng công ty nổi tiếng trên thế giới có tổng số hơn 1,5 triệu nhân viên, tổng doanh thu hơn 900 tỷ USD và tổng tài sản lên tới hàng ngàn tỷ USD Mỹ, gồm 3 nhà cung cấp khí LNG, hai công ty cung cấp dịch vụ vận chuyển LNG và kho lưu trữ nổi ngoài khơi, 4 công ty công nghệ phát điện, 3 công ty chuyên về sản xuất điện độc lập, các công ty tư vấn công nghệ, tư vấn luật, 4 tập đoàn tài chính và bảo hiẻm... từ các nước phát triển với công nghệ nguồn, dự kiến sẽ tham gia đầy đủ chuỗi giá trị khép kủ của toàn bộ dự án, đủ để chúng ta yên tâm, hoàn toàn tin tưởng vào năng lực của tổ hợp các đối tác đầu tư do Công ty DOE dẫn dầu, đảm bảo thành công của dự án.
Giá bán điện của dự án sẽ được xác định theo quy định pháp luật qua thương thảo Hợp đồng mua bán điện PPA với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tính toán sơ bộ trong nghiên cứu tiền khả thi khoảng 07 UScents/kwh (bảy cents đô la Mỹ/KWh) như cam kết ban đầu của nhà đầu tư, đòi hỏi cần có nỗ lực chung của cả nhà đầu tư cũng như của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (cơ quan thay mặt nhà nước mua điện của nhà máy) và Bộ Công Thương.
Chiến lược phát triển giai đoạn 2021 - 2030 xác định Bạc Liêu sẽ trở thành trung tâm năng lượng của vùng và cả nước. Với chiến lược phát triển trên và qua dự án này, Bạc Liêu đang hiện thực hóa chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế” theo các nghị quyết về tăng trưởng xanh, tăng trưởng bền vững của Chính phủ, các cam kết quốc tế của Việt Nam về giảm thiểu phát thải khí CO2, ứng phó biến đổi khí hậu, phù hợp với xu thế phát triển điện năng trên thế giới.
Chia sẻ về dự án quan trọng này, ông Dương Thành Trung, Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu nhấn mạnh, dự án Nhà máy điện khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) Bạc Liêu là dự án trọng điểm, có vai trò tạo động lực chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Dự án sẽ tạo thêm hàng nghìn việc làm, hàng chục tỷ đồng tiền thuế nhà thầu trong thời gian xây dựng, đặc biệt khi dự án đi vào hoạt động có thể đóng góp cho ngân sách Nhà nước hơn 3.000 tỷ đồng/năm, từng bước góp phần giúp tỉnh tự cân đối được ngân sách. Để dự án triển khai theo kế hoạch, UBND tỉnh Bạc Liêu yêu cầu nhà đầu tư cùng các đối tác nỗ lực thực hiện đúng tiến độ như cam kết và mong muốn các Bộ, ngành Trung ương tiếp tục hỗ trợ, đồng hành cùng tỉnh, nhà đầu tư nhằm sớm phát huy hiệu quả dự án.
Nhằm khuyến khích nhà đầu tư thực hiện đầy đủ các cam kết, Quyết đinh chủ trương đầu tư của tỉnh Bạc Liêu cũng cho phép nhà đầu tư được hưởng các ưu đãi đầu tư và hỗ trợ cao nhất áp dụng cho khu vực kinh tế khó khăn theo các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam.
TheoNhadautu.vn