e

Thứ Tư, tháng 12 15, 2010

Giá trị thương hiệu


“Nếu phải chia tách doanh nghiệp, tôi sẽ nhường cho bạn toàn bộ bất động sản, tôi sẽ chỉ lấy thương hiệu và nhãn hiệu hàng hóa, chắc chắn tôi sẽ lời hơn bạn”- John Stuart, Chairman of Quaker (ca. 1900)

25 năm cuối của thập kỷ 20 chứng kiến sự thay đổi cực kỳ ấn tượng trong hiểu biết của con người về những nhân tố tạo nên giá trị cổ đông. Trước đây, tài sản hữu hình vẫn được coi nhân tố chính tạo nên giá trị doanh nghiệp. Những nhân tố này bao gồm máy móc thiết bị, đất đai, nhà cửa hoặc những tài sản tài chính khác như các khoản phải thu và vốn đầu tư.

Các tài sản này được xác định giá trị dựa trên chi phí và giá trị còn lại như thể hiện trên bảng cân đối kế toán. Thực ra thì thị trường cũng nhận thức được sự hiện diện của tài sản vô hình nhưng giá trị cụ thể của nó là không rõ ràng và chưa định lượng được. Ngay cả ngày nay, trong quá trình xác định lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, việc tính toán chỉ dựa trên các chỉ số như tỷ suất sinh lợi đầu tư, tài sản, vốn chủ sở hữu chứ không hề dựa vào các chỉ số liên quan đến tài sản vô hình. Đơn cử là chỉ số P/B (Price-to-book ratio), giá trị của tài sản vô hình đã bị loại trừ khỏi giá trị số sách (B)

Điều này không có nghĩa rằng giới quản lý đã sai lầm khi không nhận thức được tầm quan trọng của tài sản vô hình. Thương hiệu, công nghệ, bằng sáng chế, nhân lực là những nhân tố sống còn cho sự thành công của doanh nghiệp nhưng hiếm khi được xác định giá trị một cách chi tiết, nó chỉ được tính gộp vào tổng giá trị tài sản một cách tương đối. Một số thương hiệu lớn như Coca-Cola, Procter & Gamble, Unilever, Nestlé luôn luôn nhận thức được tầm quan trọng của thương hiệu, minh chứng là các công ty này lập ra hẳn chức danh Giám đốc thương hiệu. Tuy nhiên, trên thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư chỉ tập chung định giá dựa trên khả năng khai thác tài sản hữu hình của doanh nghiệp.

1. Bằng chứng về giá trị của thương hiệu

Sự quan tâm đến giá trị của tài sản vô hình ngày càng tăng khi mà khoảng cách giữa giá trị thị trường và giá trị số sách của công ty ngày càng lớn, thể hiện cụ thể nhất là trong các vụ mua bán và sáp nhập vào những năm cuối của thập kỷ 1980.

Ngày nay, hoàn toàn có thể nói rằng phần lớn giá trị doanh nghiệp là nằm ở tài sản vô hình. Mối quan tâm của các cấp quản lý đối với loại tài sản này đã gia tăng một cách đáng kể.

Thương hiệu là một tài sản vô hình đặc biệt mà trong nhiều doanh nghiệp nó được coi là tài sản quan trọng nhất. Điều này là bởi vì những tác động kinh tế mà thương hiệu có thể mang lại. Thương hiệu ảnh hưởng đến lựa chọn của người tiêu dùng, của nhân viên, nhà đầu tư và cả các cơ quan công quyền. Trong một thế giới có nhiều lựa chọn, sự ảnh hưởng này là tối quan trọng cho thành công trong thương mại và tạo ra giá trị cho cổ đông. Ngay cả các tổ chức phi chính phủ cũng coi thương hiệu là nhân tố then chốt trong việc tìm kiếm các nguồn tài trợ, quyên góp cũng như tìm kiếm ứng viên tình nguyện.

Một vài thương hiệu cũng đã chứng tỏ được tính lâu bền đến đáng kinh ngạc. Coca-Cola được coi là thương hiệu có giá trị nhất với 118 năm tuổi; Phần lớn các thương hiệu còn lại cũng vào khoảng 60 năm tuổi hoặc hơn trong khi vòng đời bình quân của một doanh nghiệp theo thống kê là vào khoảng 25 năm tuổi. Nhiều công trình nghiên cứu đã cố gắng ước lượng mức độ đóng góp của thương hiệu vào giá trị doanh nghiệp. Một nghiên cứu của Interbrand kết hợp với JP Morgan đã kết luận rằng thương hiệu đóng góp vào khoảng 1/3 giá trị cho cổ đông. Công trình nghiên cứu cũng tiết lộ rằng thương hiệu tạo ra một giá trị đáng kể cho người tiêu dùng, doanh nghiệp hoặc cả hai.

Các công trình nghiên cứu của đại học Harvard, đại học South Carolina và Interbrand đối với các công ty có trong bảng phân hạng “Thương hiệu tốt nhất toàn cầu” cho thấy các công ty này có khả năng hoạt động hiệu quả hơn nhiều các doanh nghiệp khác xét ở tất cả các khía cạnh. Công trình cũng cho thấy rằng việc sở hữu một danh mục cổ phiếu của các thương hiệu này là có giá trị hơn nhiều nếu đầu tư vào các thương hiệu nằm trong bảng danh sách của Morgan Stanley’s global MSCI và S&P 500.

Ngày nay, các công ty hàng đầu tập chung nỗ lực quản lý của họ vào tài sản vô hình. Điển hình, Ford Motor đã giảm đáng kể cơ cấu đầu tư từ tài sản hữu hình vào tài sản vô hình. Trong khoảng vài năm gần đây, Ford đã đầu tư trên 12 tỷ USD để gia tăng uy tín cho những thương hiệu như Jaguar, Aston Martin, Volvo và Land Rover. Tập đoàn điện tử Sam sung cũng đầu tư rất mạnh vào tài sản vô hình, sẵn sàng bỏ ra 7.5% doanh thu hàng năm để đầu tư vào Nghiên cứu phát triển và 5% cho lĩnh vực truyền thông. Trong lĩnh vực hàng tiêu dùng, nhiều công ty sẵn sàng bỏ ra đến 10% doanh thu hàng năm cho lĩnh vực Marketing. Đó chính là những điều mà John Akasie đã viết trong một bài báo của tạp chí Forbes:

“Chung quy lại thì đó là những vấn đề về thương hiệu, xây dựng thương hiệu và các mối quan hệ với khách hàng. Các công ty sở hữu các thương hiệu nổi tiếng có thể thu được lợi nhuận lớn từ các khoản đầu tư và tăng trưởng nhanh hơn, các công ty này cũng không phải vướng bận nhiều với việc quản lý nhà máy cũng như một khối lượng lớn nhân công thông qua những gì mà thị trường chứng khoán đã tưởng thưởng cho họ với chỉ số P/E cao”.

2. Việc ghi nhận giá trị thương hiệu trên bảng cân đối kế toán

Làn sóng mua lại thương hiệu vào cuối những năm 1980 là kết quả của việc phần lớn hệ thống kế toán hiện hành không ghi nhận được giá trị của thương hiệu theo khía cạnh kinh tế học. Các giao dịch châm ngòi cho những tranh cãi xung quanh việc ghi nhận này bao gồm việc Nestlé mua lại Rowntree, Grand Metropolitan mua lại Pillsbury, và Danone mua lại Nabisco’s European.

Khi các công ty này mua lại một số công ty khác, chế độ kế toán hiện hành không hề có khoản mục nào dành cho cái gọi là thương hiệu (lưu ý rằng thương hiệu là một phần của “Goodwill” (lợi thế thương mại) bao gồm thương hiệu, công nghệ, bằng sáng chế, nhân lực). Kết quả là các công ty này “bị phạt” cho những gì mà họ tin tưởng là góp phần làm tăng giá trị từ các vụ mua lại. Họ đã phải chịu đựng những khoản khấu trừ rất lớn trực tiếp vào tài khoản thu nhập hoặc các quỹ dự trữ. Trong nhiều trường hợp, kết quả của vụ mua bán khiến tài sản của doanh nghiệp còn giảm thấp hơn trước khi mua.

Ở một số quốc gia như Anh, Pháp, Úc và New Zealand, việc ghi nhận giá trị của thương hiệu như là tài sản vô hình vào bảng cân đối kế toán của một số thương hiệu được mua lại đã thực hiện từ lâu. Điều này giúp giải quyết phần nào những vấn đề phát sinh như đã trình bày ở trên. Tuy nhiên, việc ghi nhận này vẫn còn nhiều điểm hạn chế, ít nhất là ở Anh và Pháp. Các công ty ở hai quốc gia này không được khuyến khích nhưng đồng thời cũng không bị cấm ghi nhận giá trị thương hiệu vào bảng cân đối kế toán. Vào giữa những năm 1980, Reckitt & Colman, một công ty hoạt động tại Anh đã ghi nhận giá trị của thương hiệu Airwick khi tiến hành mua lại; Grand Metropolitan cũng thực hiện tương tự với thương hiệu Smirnoff. Cùng thời điểm này, một vài hãng báo chí cũng ghi nhận giá trị tên tờ báo của họ vào bảng cân đối kế toán.

Vào cuối những năm 1980, việc ghi nhận giá trị của thương hiệu được mua lại gợi ý đến việc ghi nhận giá trị tự tích lũy của thương hiệu như là một tài sản tài chính có giá trị của công ty. Vào năm 1988, Rank Hovis McDougall (RHM), một tập đoàn (conglomerate) hoạt động chính trong lĩnh vực thực phẩm đã bảo vệ thành công giá trị thực sự thương hiệu của mình khi bị đối thủ là tập đoàn Goodman Fielder Wattie (GFW) nhăm nhe thôn tính. Đây được coi là công ty tiên phong trong việc tự định giá thương hiệu của mình chứng minh rằng thương hiệu không chỉ được định giá khi bị mua lại mà còn có thể được định giá trong nội bộ công ty. Sau thành công này, năm 1988, RHM ghi nhận giá trị thương hiệu của mình dưới hai dạng là Giá trị thương hiệu được mua lại (Acquired brands) và Giá trị thương hiệu tự tích lũy (internally generated brands) dưới khoản mục là tài sản vô hình trong bảng cân đối kế toán.

Vào năm 1989, thị trường chứng khoán London ban hành quyết định công nhận việc định giá thương hiệu đã được sử dụng bởi RHM bằng cách cho phép việc ghi nhận giá trị tài sản vô hình trong quá trình định giá để xin ý kiến chấp thuận của cổ đông. Điều này đã tạo nên một làn sóng mạnh mẽ khi các công ty có thương hiệu tốt quyết định ghi nhận giá trị thương hiệu của mình như là tài sản vô hình vào bảng cân đối kế toán. Ở Anh, một số công ty này bao gồm Cadbury Schweppes, Grand Metropolitan (khi mua lại Pillsbury với giá 5 tỷ đôla), Guinness, Ladbrokes (khi mua lại Hilton) và United Biscuits (bao gồm cả thương hiệu Smith).

Ngày nay, nhiều công ty bao gồm L’Oréal, Gucci, Prada, và PPR đã ghi nhận giá trị thương hiệu được mua lại của họ vào bảng cân đối kế toán. Các công ty khác lại sử dụng giá trị của thương hiệu như là một chỉ số thể hiện hiệu quả trong hoạt động tài chính và là công cụ hỗ trợ trong hoạt động đầu tư.

Nếu xét về khía cạnh liên quan đến chuẩn mực kế toán, các quốc gia như Anh, Úc, New Zealand được coi là những quốc gia tiên phong trong việc cho phép thương hiệu (brands) được xuất hiện trên bảng cân đối kế toán và cung cấp chi tiết cách ghi nhận cho thương hiệu trong tài khoản Lợi thế thương mại. Năm 1999, UK Accounting Standards Board đưa ra đạo luật FRS 10 và 11 hướng dẫn chi tiết việc ghi nhận tài khoản Lợi thế thương mại trên bảng cân đối kế toán. The International Accounting Standards Board theo sau với đạo luật IAS 38. Mùa xuân năm 2002, US Accounting Standards Board giới thiệu đạo luật FASB 141 và 142, bãi bỏ một số quy định không phù hợp trước đây và đưa ra đạo luật hướng dẫn chi tiết về việc ghi nhận tài khoản Lợi thế thương mại vào bảng cân đối kế toán.

Có một số dấu hiệu cho thấy hầu hết các chuẩn mực kế toán, bao gồm của quốc tế và của Anh cuối cùng cũng sẽ chuyển sang chuẩn mực của Mỹ. Điều này là vì hầu hết các công ty quốc tế nếu muốn huy động vốn hoặc hoạt động ở Mỹ phải đáp ứng các tiêu chuẩn do Mỹ đặt ra (US Generally Accepted Accounting Principles)

Quy định chung của tất cả các chuẩn mực kế toán cho thấy Lợi thế thương mại cần được ghi tăng hoặc ghi giảm căn cứ vào chu kỳ sống của nó. Tuy nhiên, loại tài sản vô hình như là thương hiệu có chu kỳ sống vô định nên không thể ghi giảm như là cách ghi khấu hao. Thay vào đó, các công ty sẽ tiến hành định giá lại thương hiệu hàng năm và ghi nhận giá trị của thương hiệu vào bảng cân đối kế toán căn cứ vào kết quả định giá. Hai phương pháp được khuyến khích sử dụng là phương pháp Chiết khấu dòng tiền (DCF) và phương pháp Tiếp cận theo giá trị thị trường (market value approaches). Việc định giá phải được thực hiện trên từng đối tượng (đơn vị kinh doanh, công ty con…) có doanh thu và lợi nhuận.

Các chuẩn mực kế toán liên quan đến việc ghi nhận giá trị của Lợi thế thương mại trong các vụ mua bán công ty là một bước tiến quan trọng trong việc cải thiện cách ghi chép giá trị của thương hiệu vào các báo cáo tài chính. Tuy nhiên, cách ghi nhận này là vẫn chưa hiệu quả bởi vì chỉ ghi nhận phần giá trị được mua lại và chi tiết được ghi dưới dạng ghi chú trong tài khoản. Điều này dẫn đến sự bóp méo là giá trị của thương hiệu ví như của McDonald thực tế vẫn không được ghi vào bảng cân đối kế toán của công ty, cho dù giá trị của thương hiệu này chiếm đến 70% giá trị thị trường của công ty.

Ngoài ra cũng có một số vấn đề liên quan đến chất lượng định giá thương hiệu. Một số công ty sử dụng cách tiếp cận đặc trưng trong việc định giá thương hiệu nhưng cũng có không ít công ty sử dụng những kỹ thuật kém phức tạp hơn và thường là đưa ra những kết quả rất không đáng tin cậy. Tranh cãi xung quanh việc làm thế nào để đưa giá trị dài hạn thực sự của một công ty gần hơn với giá trị ghi trên số sách rồi đây sẽ còn tiếp tục. Tuy nhiên, nếu có một cách tiếp cận tốt hơn và các báo cáo tài chính của công ty được cải thiện xét về khía cạnh giá trị thương hiệu, giá trị tài sản của công ty rồi đây sẽ trở nên “vô hình” hơn.

3. Giá trị xã hội của thương hiệu

Giá trị kinh tế của thương hiệu đối với người sở hữu nó ngày nay được chấp nhận một cách rộng rãi nhưng giá trị xã hội của thương hiệu vẫn là cái gì đó không rõ ràng. Liệu thương hiệu có tạo ra giá trị cho ai khác ngoài chủ sở hữu? Và liệu giá trị mà thương hiệu tạo ra có phải bắt nguồn phần lớn từ chi phí của xã hội? Người ta tìm thấy mối liên hệ trực tiếp giữa thương hiệu với việc bóc lột sức lao động ở nhiều quốc gia đang phát triển và việc đồng hóa văn hóa. Ngoài ra, thương hiệu còn bị kết tội gây cản trở cạnh tranh và làm lu mờ tính trong sạch của hệ thống tài chính bằng cách khuyến khích độc quyền và giới hạn sự lựa chọn của khách hàng. Xét ở khía cạnh ngược lại, nhiều người cho rằng thương hiệu tạo ra giá trị đáng kể cho chủ sở hữu cũng như cho xã hội bằng cách gia tăng cạnh tranh, cải thiện chất lượng sản phẩm và làm gia tăng áp lực cho người chủ sở hữu phải hành xử có trách nhiệm hơn với xã hội.

Cạnh tranh trên cơ sở hiệu quả hoạt động và giá cả là bản chất của cạnh tranh về thương hiệu, điều này sẽ thúc đẩy quá trình cải tiến và phát triển sản phẩm. Các công ty đầu tư mạnh vào việc phát triển thương hiệu thường có danh mục sản phẩm mới nhiều hơn các công ty khác. Một nghiên cứu được thực hiện bởi PIMS Europe cho Hiệp hội thương hiệu Châu Âu (European Brands Association) cho thấy rằng các doanh nghiệp có thương hiệu kém thường đưa ra ít sản phẩm mới, ít đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu phát triển và các sản phẩm ít có lợi thế cạnh tranh hơn các doanh nghiệp cùng ngành có thương hiệu tốt hơn. Thống kê cho thấy gần một nửa công ty có thương hiệu kém hầu như không đầu tư gì cho nghiên cứu phát triển so sánh với dưới ¼ các công ty có thương hiệu tốt. Và trong khi 26% các nhà sản xuất có thương hiệu kém hầu như không bao giờ giới thiệu các sản phẩm mới, con số này thấp hơn nhiều đối với các nhà sản xuất có thương hiệu tốt hơn là 7%.

Người chủ sở hữu thương hiệu phải chịu trách nhiệm về chất lượng của sản phẩm, dịch vụ cũng như hành vi của họ đối với xã hội. Nếu kết nối mối liên hệ giữa thương hiệu với doanh số và giá trị cổ phiếu, chi phí tiềm tàng của việc hành xử phi đạo đức là cao hơn rất nhiều lần so với lợi ích nhận được khi hành xử phi đạo đức. Một số thương hiệu nổi tiếng cũng đã từng bị cáo buộc là hành xử phi đạo đức nhưng hay thay, ngày nay các thương hiệu này được coi như những ứng cử viên tiên phong trong việc đưa ra các chuẩn mực đạo đức và hệ thống giám sát nội bộ. Điều này không có nghĩa là các thương hiệu này đã thành công trong việc loại trừ các hành vi phi đạo đức, nhưng ít nhất cũng thể hiện rằng họ sẵn sàng đối mặt với những vấn đề này.

Các công ty càng thành thật trong việc chấp nhận khoảng cách mà họ phải vượt qua xét về hành vi đạo đức thì sẽ càng được khách hàng tin tưởng. Nike, một công ty đã từng bị lên án khi các nhà cung cấp của nó bóc lột sức lao động ở các quốc gia đang phát triển, ngày nay cung cấp báo cáo kiểm toán bên ngoài và nội dung phỏng vấn các công nhân nhà máy trên website: www.nikebiz.com. Mối quan ngại của các công ty đa quốc gia là có thể hiểu được, theo đó chỉ một sự giảm sút khoảng 5% doanh thu có thể là sự mất mát giá trị thương hiệu lên đến trên 1 tỷ đôla. Như vậy, rõ ràng việc hành xử theo chuẩn mực đạo đức có mối tương quan với những lợi ích kinh tế của những công ty này.


Truongnx (Tổng hợp từ nguồn: www.interbrand.com)

Để xác định được giá trị của thương hiệu vốn dĩ cực kỳ phức tạp, lưu ý thực hiện đầy đủ 5 bước sau:

Bước 1: Xác định phân khúc thị trường

Thương hiệu ảnh hưởng đến sự lựa chọn của khách hàng, nhưng mức độ ảnh hưởng khác biệt tùy thuộc vào thị trường mà thương hiệu hoạt động. Hãy chia nhỏ thị trường thành nhiều nhóm không trùng lắp và đồng nhất căn cứ vào các tiêu chuẩn khả dụng như sản phẩm hoặc dịch vụ, kênh phân phối, xu hướng tiêu dùng, địa lý, khách hàng hiện tại, khách hàng mới, mức độ khó tính của khách hàng... Thương hiệu sẽ được đánh giá trên từng phân khúc và tổng giá trị của từng phân khúc sẽ tạo nên giá trị của thương hiệu.

Bước 2: Phân tích tài chính

Nhận diện và dự đoán doanh thu, lợi nhuận có được nhờ tài sản vô hình cho từng phân khúc đã xác định trong bước 1. Lợi nhuận có được nhờ tài sản vô hình được tính bằng cách lấy doanh thu từ tài sản vô hình trừ đi chi phí hoạt động, thuế, chi phí sử dụng vốn. Cách tính này là tương tự như cách tính lợi nhuận trong kinh tế học.

Bước 3: Phân tích nhu cầu

Đánh giá vai trò của thương hiệu trong việc tạo nên sức cầu hàng hóa và dịch vụ trong thị thường mà thương hiệu hoạt động sau đó xác định tỷ lệ phần trăm khoản thu nhập từ thương hiệu tính trên tổng thu nhập từ tài sản vô hình được thể hiện bằng “Chỉ số vai trò thương hiệu” (role of branding index). Muốn thực hiện được điều này trước tiên phải nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu, sau đó xác định mỗi nhân tố sẽ chịu tác động như thế nào bởi thương hiệu. Thu nhập từ thương hiệu được tính toán bằng cách nhân “Chỉ số vai trò thương hiệu” với tổng thu nhập từ tài sản vô hình.

Bước 4: Phân hạng cạnh tranh

Tìm hiểu điểm mạnh và điểm yếu của thương hiệu từ đó rút ra “Chỉ số chiết khấu thương hiệu” phản ảnh rủi ro của khoản thu nhập mong đợi trong tương lai (chỉ số chiết khấu thương hiệu được đo lường thông qua “Chỉ số sức mạnh thương hiệu”). Điều này đòi hỏi một khối lượng công việc đồ sộ bao gồm việc xác định cấu trúc và phân hạng thị trường của thương hiệu, tính ổn định, vị trí dẫn đầu, vị trí tiên phong, xu hướng tăng trưởng, hỗ trợ, sự bảo hộ của luật pháp.

Bước 5: Xác định giá trị của thương hiệu (Xem thêm file đính kèm: Brand Valuation.xls)

Giá trị của thương hiệu là hiện giá (NPV) của tất cả các khoản thu nhập kỳ vọng của thương hiệu trong tương lai, chiết khấu tại mức tỷ suất chiết khấu thương hiệu. Quá trình tính toán NPV bao gồm cả giai đoạn dự báo và giai đoạn sau đó, phản ảnh khả năng của thương hiệu trong việc liên tục tạo ra thu nhập trong tương lai. Bảng 1 đưa ra giả thiết trong việc định giá thương hiệu tại một phân khúc thị trường. Mô hình tính toán này là rất hữu dụng trong nhiều tình huống như:

  • Dự đoán hiệu quả của các chiến dịch marketing và đầu tư
  • Xác định và đánh giá ngân sách truyền thông
  • Tính toán các khoản lợi nhuận có được từ đầu tư vào thương hiệu
  • Đánh giá các cơ hội ở thị trường mới hoặc thị trường đang khai thác
  • Theo dõi tiến trình quản lý giá trị của thương hiệu

Bảng 1:

Nội dung

Thông số

Năm 01

Năm 02

Năm 03

Năm 04

Năm 05

Tổng thị trường (Đơn vị sản phẩm)


250,000,000

258,750,000

267,806,250

277,179,469

286,880,750

Tốc độ tăng trưởng thị trường (%)



3.50%

3.50%

3.50%

3.50%

Thị phần (%)


15%

17%

19%

21%

20%

Khối lượng (Đơn vị sản phẩm)


37,500,000

43,987,500

50,883,188

58,207,688

57,376,150

Giá ($)


10.000

10.250

10.455

10.675

10.899

Thay đổi giá (%)



2.50%

2.00%

2.10%

2.10%

Doanh thu từ tài sản vô hình


375,000,000

450,871,875

531,983,725

621,341,172

625,326,631

Giá vốn hàng bán


150,000,000

180,348,750

212,793,490

248,536,469

250,130,653

Lợi nhuận gộp


225,000,000

270,523,125

319,190,235

372,804,703

375,195,978

Chi phí Marketing


67,500,000

81,156,938

95,757,071

111,841,411

112,558,794

Khấu hao


2,812,500

3,381,539

3,989,878

4,660,059

4,689,950

Chi phí quản lý


18,775,000

22,543,594

26,599,186

31,067,059

31,266,332

Chi phí phân bổ


3,750,000

4,508,719

5,319,837

6,213,412

6,253,266

EBITA (Thu nhập trước lãi, thuế, và giảm trừ)


132,162,500

158,932,335

187,524,263

219,022,762

220,427,636

Thuế phải trả

35%

46,256,875

55,626,317

65,633,492

76,657,967

77,149,673

Lợi nhuận hoạt động sau thuế


85,905,625

103,306,018

121,890,771

142,364,795

143,277,963

Tổng vốn huy động


131,250,000

157,805,156

186,194,304

217,469,410

218,864,321

Vốn lưu động


112,500,000

135,261,563

159,595,118

186,402,351

187,597,989

Giá trị tài sản ròng (PPE)


18,750,000

22,543,593

26,599,186

31,067,059

31,266,332

Chi phí sử dụng vốn

8%

10,500,000

12,624,412

14,895,544

17,397,553

17,509,146

Tổng thu nhập từ tài sản vô hình


75,405,625

90,681,605

106,995,227

124,967,243

125,768,818

Chỉ số vai trò thương hiệu

79%






Thu nhập từ thương hiệu


59,570,444

71,638,468

84,526,229

98,724,122

99,357,366

Chỉ số sức mạnh thương hiệu

66



Chỉ số chiết khấu thương hiệu

7.40%



NPV 5 năm đầu


329,534,488


Tốc độ tăng trưởng thương hiệu trong dài hạn

2.50%



NPV năm thứ 6 trở đi


1,454,475,628


Giá trị của thương hiệu


1,784,010,115


<Tổng hợp www.interbrand.com,www.businessweek.com

Top 10 thương hiệu Thế giới 2009

This item was filled under [ Thương hiệu ]

Với giá trị ước tính 114,26 tỷ USD, Google tiếp tục là thương hiệu mạnh nhất trong 4 năm qua, kế đến là IBM, Apple và Microsoft.

Công ty tư vấn và nghiên cứu thị trường Millward Brown vừa công bố bảng xếp hạng 100 thương hiệu lớn nhất thế giới. Dù suy thoái kinh tế, giá trị các thương hiệu vẫn tăng 4% và đạt tổng cộng hơn 2 nghìn tỷ USD.

10 thương hiệu giá trị nhất thế giới theo Millward Brown.

“Trước đây, nhiều công ty giảm chi phí marketing trong giai đoạn kinh tế đi xuống”, Giám đốc điều hành Joanna Seddon của Millward Brown cho hay. “Xu hướng mới là càng nhiều công ty duy trì, thậm chí tăng ngân sách, để đảm bảo sự trung thành của khách hàng khi có suy thoái”.

Cá nhân hóa sản phẩm là yếu tố quan trọng để thu hút người tiêu dùng, chẳng hạn Google cho phép tùy biến trang chủ hay người sử dụng Apple iPhone có thể cá nhân hóa điện thoại bằng cách tải ứng dụng khác nhau về máy.

Samsung có mức phát triển mạnh nhất, tăng 80% giá trị so với năm trước và đứng ở vị trí 68. Trong khi đó, giá trị nhãn hiệu của Nokia giảm tới 58% và xếp thứ 43.

10 thương hiệu công hnghệ àng đầu:

STT Thương hiệu Giá trị (tỷ USD) STT Thương hiệu Giá trị (tỷ USD)
1 Google 114,3 6 Blackberry 30,7
2 IBM 86,4 7 Oracle 24,8
3 Apple 83,2 8 SAP 24,3
4 Microsoft 76,3 9 Cisco 16,7
5 HP 39,7 10 Nokia 14,9

Millward Brown tổng hợp danh sách thông qua việc phỏng vấn hơn 1 triệu người tiêu dùng toàn cầu và phân tích các báo cáo tài chính và kinh doanh của từng công ty.
Theo Vnexpress

Giá trị thương hiệu được tính như thế nào?


picture

Đây là câu hỏi quan trọng mà bất cứ doanh nghiệp nào, dù lớn hay nhỏ, trước sau gì cũng sẽ quan tâm. Thương hiệu là tài sản tối quan trọng, nhất là khi doanh nghiệp cổ phần hoá, tham gia thị trường chứng khoán. Hiện nay, tại Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện công ty luật, công ty tư vấn chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá thương hiệu, định giá doanh nghiệp.

Các sàn giao dịch trực tuyến ra đời gần đây khẳng định nhu cầu mua bán, chuyển nhượng, sáp nhập công ty ngày càng tăng.

Sự kiện của Ranks Hovis McDougall năm 1988

Theo kết quả của nghiên cứu năm 2002 của Interbrand, bình quân giá trị thương hiệu chiếm ít nhất một phần ba giá trị cổ phiếu. Interbrand là một công ty tư vấn thương hiệu nổi tiếng thế giới.Một điều khá thú vị là trước đây, ngay tại các nước phát triển, thương hiệu đã không được công nhận chính thức trên sổ sách kế toán của doanh nghiệp hiện nay. Doanh nghiệp không thể tự định giá, ghi nhận tài sản thương hiệu trên bảng cân đối tài sản trước khi đàm phán cổ phần cho nhà đầu tư bên ngoài.

Cuối những năm 1980, cách suy nghĩ và cách làm này được thay đổi. Năm 1988, để tránh bị mua đứt bởi tập đoàn khác, Ranks Hovis McDougall (RHM – tập đoàn thực phẩm hàng đầu ở Anh) đã thành công trong việc chứng minh giá trị công ty của mình lớn hơn rất nhiều nhờ vào danh mục thương hiệu mà trước đây chưa từng được công nhận chính thức. Thật vậy, RHM đã thể hiện trong bảng cân đối tài sản con số 1,2 tỷ USD, đại diện cho giá trị của 60 thương hiệu công ty sở hữu.Đây là sự kiện định giá thương hiệu đầu tiên dẫn đến quy luật: Không chỉ thương hiệu được mua lại mới có thể định giá trên sổ sách, mà các thương hiệu do chính công ty tạo ra cũng được định giá. Do đó, các thương hiệu đều được RHM đưa vào báo cáo tài chính năm 1988, dưới dạng mục tài sản vô hình. Sự kiện đã ảnh hưởng rộng rãi tại Anh, lan ra nhiều nước trên thế giới.

Thương hiệu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, tài sản vô hình nói chung hay thương hiệu nói riêng chưa được chính thức công nhận trên các báo tài chính. Quyết định số 206/2003/QD-BTC ngày 12-12-2003 của Bộ tài chính ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định chưa quy định thương hiệu là tài sản cố định vô hình nên chưa có cơ cở hướng dẫn hoạch toán.Điều này sẽ gây nhiều trở ngại và thiệt thòi cho doanh nghiệp trong quá trình hội nhập, khi việc mua, bán,sáp nhập công ty đã trở nên phổ biến hơn. Nhà nước cũng sẽ bị thất thoát trong quá trình cổ phần doanh nghiệp quốc doanh. Đó là lý do Uy ban nhân dân TP.HCM gần đây có ý kiến chỉ đạo cơ quan ban ngành liên quan phải cân nhắc yếu tố thương hiệu của Bệnh viện Bình Dân (theo thông tin trên báo Tuổi Trẻ ngày 7-1-2007).

Ngay cả trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại (franchising) cũng cần được công nhận giá trị thương hiệu mới phát triển được. Với họ, thương hiệu là tài sản gần như duy nhất. Trường hợp McDonald’s của Mỹ hay chuỗi cà phê cao cấp của Gloria Jean’s của Úc là những ví dụ điển hình khi giá trị thương hiệu chiếm trên 70% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp.

Việt Nam sau hội nhập sẽ xuất hiện nhiều hệ thống nhượng quyền. Các chủ nhân khó tránh khỏi lúng túng, khó khăn trong việc định giá thương hiệu khi có nhu cầu cổ phần hoá hay góp vốn liên doanh bằng chính thương hiệu. Ngay cả thương hiệu được công nhận như tài sản vô hình chính thức cũng sẽ phát sinh nhiều khó khăn và tranh cãi khác quanh công thức, kết quả đánh giá mà doanh nghiệp sử dụng (thường mang tính chủ quan). Đây sẽ là thách thức không nhỏ.

5 phương pháp tính giá trị cụ thể doanh nghiệp

Có 5 phương pháp phổ biến, có thể áp dụng theo từng trường hợp cụ thể.

Phương pháp 1: Dựa vào khả năng bán giá cao hơn bình thường

Khi khách hàng cảm thấy an tâm, tin tưởng vào uy tín và chất lượng của thương hiệu nào đó, họ sẵn sàng trả giá cao hơn bình thường. Đó chính là khả năng giá trị công thêm của thương hiệu mang lại cho một sản phẩm.Nói cách khác, nếu không có thương hiệu, chắc chắn khách hàng sẽ không trả nhiều tiền như thế để mua sản phẩm cùng loại trên thị trường. Thử hỏi giá vốn của một túi xách thời trang cao cấp hiệu Louis Vuitlon đang bày bán tại các cửa hàng mới khai trương trên đường Đồng Khởi là bao nhiêu mà người ta gắn bảng giá lên đến hàng ngàn USD? Chắc chắn hai chữ “Louis Vuitlon” là phần vốn chủ yếu.Thực ra, có thể cân đo khả năng bán giá cao hơn bình thường của một thương hiệu qua nghiên cứu khách hàng. Khách sẽ được hỏi nhiều câu để khám phá ra sự khác biệt giữa sản phẩm có thương hiệu và sản phẩm cùng loại không có thương hiệu.

Phương pháp 2: khả năng bán hàng dễ dàng hơn bình thường

Có những loại sản phẩm không phù hợp để định giá theo phương pháp dựa vào khả năng bán giá cao hơn bình thường (phương pháp 1) vì giá bán ra khá tương đương. Như sản phẩm bút bi Thiên Long hay giấy Vĩnh Tiến, khá nổi tiếng khó bán giá cao hơn đáng kể so với các nhãn hiệu khác cùng loại, vì đặc thù của sản phẩm này trong một giai đoạn cụ thể.Đây là trường hợp có thể áp dụng cách tính dựa vào khả năng bán hàng dễ hơn bình thường đúng hơn là dựa vào sự ưa chuộng của khách.Với cách tính này, giá trị thương hiệu là khoản chênh lệch thị phần thay vì lợi nhuận như phương pháp 1. Tuy nhiên, cả phương pháp 1 và 2 đều chỉ dựa vào con số thống kê nghiên cứu liên quan chủ yếu đến sức mạnh hiện tại của thương hiệu. Điều này chưa cân nhắc nhiều đến yếu tố tương lai (khi có sự thay đổi, cải tiến về chất lượng…)

Phương pháp 3: Dựa vào chi phí để xây dựng thương hiệu

Dựa vào chi phí để xây dựng một thương hiệu tương tự, có thể so sánh được. Ví dụ, nếu chi phí ước tính để xây dựng sản phẩm, thương hiệu mới tốn khoảng 100 tỷ đồng và xác suất thành công bình thường chừng 25% cho lĩnh vực kinh doanh đó, trung bình phải đầu tư gấp 4 lần (400 tỷ đồng) mới có thể bảo đảm 100% thành công.Do đó, để mua thương hiệu thành công có sẵn, trong trường hợp này, người mua sẽ phải trả khoảng 400 tỷ đồng là hợp lý. Chi phí cho thường hiệu này tuy chỉ có 100 tỷ đồng nhưng giá trị thương hiệu được xác định ở mức 400 tỷ đồng là hợp lý

Phương pháp 4: Dựa vào giá cổ phiếu thị trường chứng khoán

Với doanh nghiệp đã tham gia thị trường chứng khoán, có thể định giá thương hiệu qua giá trị cổ phiếu. Tuy nhiên, đây là phương pháp khá phức tạp so với các phương pháp trước.Hai giáo sư của trường Đại học Chicago (Mỹ) là Carol J.Simon và Mary W.Sullivan đã áp dụng lý thuyết về tài chính để xây dựng phương pháp này. Cách tính bắt đầu từ giá thị trường của doanh nghiệp, hàm số giá cổ phiếu và lượng cổ phiếu phát hành. Nếu lấy giá thị trường của doanh nghiệp trừ đi toàn bộ giá trị tài sản hữu hình trên bảng cân đối tài sản như nhà xưởng, trang thiết bị, hàng tồn kho, vốn tiền mặt…sẽ có số dư là tài sản vô hình.Tài sản vô hình này có thể chia làm ba phần: giá trị tài sản nhãn hiệu, giá trị của những yếu tố phi nhãn hiệu (nghiên cứu, bằng sáng chế…)và giá trị của những yếu tố ngành nghề (quy định của ngành…). Trong đó, tài sản nhãn hiệu được cho là hàm số của yếu tố thâm niên và thời điểm xuất hiện trên thị trường; cho phí quảng cáo cộng dồn; tỷ lệ quảng cáo hiện tại so với tổng chi phí quảng cáo toàn ngành.

Giá trị thương hiệu trên thị trường chứng khoán dao động do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, từ khách quan đến chủ quan. Một chiến lược kinh doanh hay marketing vừa công bố đã có ảnh hưởng nhất định trên giá trị cổ phiếu.Tháng 7 – 1982, Coca-Cola tung ra sản phẩm mới là Diet Coke. Lập tức giá trị thương hiệu Coke vọt thêm 65% trong khi Pepsi vẫn nằm nguyên do không có gì mới. Ba năm sau, giá trị thương hiệu của Coke rớt xuống 10% sau khi giới thiệu tiếp sản phẩm mới New Coke “chết yểu”. Và dĩ nhiên, giá trị thương hiệu đối thủ cạnh tranh – Pepsi đã tăng 45% cùng thời điểm.Rõ ràng, tâm lý nhà đầu tư quyết định giá trị các thương hiệu trên thị trường chứng khoán.

Phương pháp 5: Khả năng tạo lợi nhuận nhiều hơn bình thường

Đây có lẽ là phương pháp tốt nhất để đánh giá thương hiệu. Trong đó, thu nhập tương lai thương hiệu có thể mang lại được ước tính rồi trừ bớt.
Thứ nhất là dựa vào kế hoạch dài hạn. Cụ thể là lấy con số luồng lợi nhuận dự tính và trừ giảm đi. Vấn đề là ước tính thế nào cho đúng. Phải cân nhắc yếu tố sức mạnh và ảnh hưởng thương hiệu với môi trường cạnh tranh.

Cách thứ hai được áp dụng khi không muốn tính hoặc tính không được luồng lợi nhuận trong tương lai mà thương hiệu có thể mang lại.Trong trường hợp này, người ta ước tính thu nhập hiện tại rồi áp dụng cấp số phân. Nếu thu nhập hiện tại không ảnh hưởng trung thực tình hình kinh doanh của thương hiệu, có thể lấy con số bình quân của vài năm trước. Nếu số bình quân là số âm hay quá thấp (do các vấn đề có thể khắc phục được), có thể lấy con số toàn ngành để làm chuẩn suy ra.
Theo Marketing Vietnam



Thứ Sáu, tháng 12 10, 2010

Thăm Thái lan



Ngày 5/12/2010 là Ngày Quốc Khánh của Vương Quốc Thái Lan, nhân dịp này tôi nhớ lại những ngày đầu tiên được biết đến đất nước láng giềng nổi tiếng về sản xuất gạo hàng đầu thế giới này và hấp dẫn về du lịch đối với rất nhiều người ở VN và cả trong chi họ nhà ta cũng có nhiều thành viên đã đến đây, do gần VN và giá phải chăng ( khỏang gần 200USD ), hiện nay có nhiều chương trình khuyến mãi, đến nỗi bay thẳng từ TpHCM đến Pattaya chỉ mất khỏang 500,000 VNĐ . Năm 1990 và 1992 tôi đã được đến Bangkok thủ đô của Thái lan, nhưng chỉ transit tại sân bay Don Muang hiện đại( nay BK có sân bay mới rất lớn là Suvarnabhuni hiện đại hơn ) trên chặng đường bay từ HN đi Bordeaux ( Pháp ) để dự HT về năng lượng, lúc đó chưa có điều kiện tham quan Bangkok và vào nước này. Sau này vào những năm sau 2000 tôi đã được tới thăm TL theo tour du lịch và theo tour do hãng Fournier tổ chức, đáng nhớ nhất là tour Bangkok – Pattaya 6 ngày 5 đêm đi và về bằng máy bay từ HCM – Bangkok.




















Theo tiếng Thái, Thái Lan có nghĩa là “xứ sở của tự do”. Thủ đô Bangkok nghĩa là “thành phố của những thiên thần”. Vương quốc Thái Lan nằm ở trung tâm Đông Nam Á. Phía Tây và phía Bắc giáp với Myanmar. Phía Bắc và Đông Bắc giáp Lào. Phía Đông Nam giáp với Campuchia và phía Nam giáp với Malaysia. Diện tích: 513.115 km2, dân số hơn 65 triệu người, trong đó người Thái chiếm 80%, người Hoa 10%, người Mã Lai 3%, còn lại là các nhóm thiểu số (Môn, Khmer, các dân tộc người vùng cao),trong đó có 10% sống ở Bangkok. Phật giáo là quốc đạo của Thái Lan, 95% dân số Thái Lan theo đạo Phật và là Quốc đạo. Ngôn ngữ phổ biến ở Thái Lan là tiếng Thái, tiếng Anh chỉ dùng trong thương mại. Các đường phố ở Thái Lan đều có tên bằng tiếng Thái và tiếng Anh. Tiếng Hán cũng được sử dụng rộng rãi nhưng chủ yếu ở phố người Hoa.

Trải qua 800 năm lịch sử, Thái Lan có thể tự hào là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không bị nước ngòai đô hộ. Thái Lan có thể chế quân chủ nghị viện từ năm 1932. Quốc hội gồm Thượng nghị viện, Hạ nghị viện. Lãnh đạo chính phủ là thủ tướng. Người Thái có truyền thống tôn sùng hoàng gia. Đức vua Bhumibol Ađulyadej, tức Rama Ĩ, là vị vua thứ chín của vương triều Chakri. Ngài lên ngôi năm 1946, là vị vua Thái tại ngôi lâu nhất. Là đức vua lập hiến, ngài duy trì được thái độ trung lâp trong những thời kỳ khủng hoảng

Thái Lan là nước có nhiều di tích lịch sử nhất Đông Nam Á. Các bãi biển ở đây là điểm đến lí tưởng cho du khách, đặc biệt là thủ đô Bangkok có rất nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng và là thành phố mang đậm văn hóa của Thái Lan. Hệ thống giao thông của Thái Lan rất thuận tiện, cơ sở hạ tầng du lịch cũng khá hiện đại. Mỗi năm có khoảng 8 500 000 khách du lịch quốc tế đến Thái Lan để tham quan và nghỉ ngơi. Người Thái Lan rất
cởi mở, giản dị và đặc biệt hiếu khách. Thái Lan là nước duy nhất của Đông Nam Á không phải chịu sự áp bức của chế độ thực dân.

Thời tiết ở Thái Lan tương đương Việt Nam. Từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau là thời gian du lịch thích hợp nhất ở Tháo Lan vì thời tiết ít mưa lại không nắng.

Hàng hóa Thái Lan rất phong phú, mua sắm chủ yếu trong các siêu thị như Robinson, Big C ở Bangkok, các mặt hàng cùng chủng loại có tổng giá trị dưới 300 USD thì được miễn thuế. Từ Bangkok đều có các đường bay đến các thành phố lớn của Thái Lan, giao thông ở đây chất lượng không cao, giá rẻ. Phương tiện giao thông chủ yếu giữa các thành phố của Thái Lan chủ yếu là taxi đường dài. Tuktuk, sỏng thẻo( giống xe lam ở Việt Nam) . Mua bán ở Thái Lan tất cả phải trả bằng Bath, người bán không được nhận USD. Tờ 50, 100 USD đổi được giá cao hơn tờ lẻ 1,2,5,10 USD. Tập quán: Người Thái lan có thói quen chắp hai tay trước ngực, không cần phải bắt tay chào hỏi hoặc chào tạm biệt. Thường trước họ tên của mỗi người đều thêm chữ Khum để biểu thị sự tôn kính.


BANGKOK.



BangKok là một trong số các thành phố quốc tế ở Châu Á, được Quốc Vương thứ nhất của đương triều Chakri lập làm thủ đô vào năm 1782. Bangkok là kho báu quốc gia và là trung tâm về các mặt tinh thần, văn hoá, chính trị, thương mại, giáo dục và ngoại giao của Thái Lan.

Tại Bangkok được tham quan Cung điện Hoàng Gia “ Royal Grand Palace” quần thể kiến trúc độc đáo, hoành tráng, thăm điện thờ Phật ngọc - quốc bảo Thái Lan. Thăm Chùa Phật Vàng (Golden Buddha) nơi thờ tượng phật ngồi bằng vàng nặng 5,5 tấn lớn nhất thế giới. thăm Xưởng Chế tác Đá Quý - World Germ Company, Vườn Bướm., Sở thú Hoang Dã (Safari World). Thưởng thức show diên điệp viên 007, cá heo…Xe đưa dạo quanh Safari World xem cuộc sống tự nhiên của các loài động vật như Hươu Cao Cổ, Hà Mã, Ngựa Vằn, Báo, Cọp, Sư Tử, Gấu… Tiếp tục hành trình ghé thăm Trại rắn trường đại học Chualalongkong. Đến Bangkok thăm xưởng sản xuất và phòng trưng bầy các sản phẩm đồ da. Tự do mua sắm tại các siêu thị lớn như World Trade Centre, Maboonkrong, khu buôn bán hàng giá sỉ Pratunam Market, Rachada Sago…..Tối lên du thuyền dạo trên dòng sông Chaophaya huyền thoại của vương quốc Thái.

Vài nét đặc trưng của các đia danh tham quan :


Chùa Phật Vàng (Golden Buddha) là nơi có bức tượng Phật bằng vàng lớn nhất thế giới.
Người dân Thái Lan nghĩ rằng bức tượng Phật này là biểu tượng cho sự thịnh vượng và thuần khiết cũng như sức mạnh và quyền năng. Tượng Phật Vàng ngồi đúc bằng vàng khối, cao 3m, nặng 5,5 tấn, được làm khoảng thế kỷ 13-15, Triều đại Sukhothai. Chùa Phật Vàng mở cửa đón du khách từ 9h sáng đến 5h chiều với giá vé 20 bath/khách. Thời điểm lý tưởng nhất để tham quan ngôi chùa là vào buổi sáng, lúc đó vẫn còn ít người, thuận lợi cho việc tham quan và chụp hình.






Chùa Benchamabophit (Chùa Cẩm thạch)
Gần Lâu đài Chitralada, ngôi chùa độc đáo làm bằng đá cẩm thạch này được xây dựng trong thời gian Quốc Vương Chulalongkorn (1868-1910) trị vì, sử dụng các chi tiết tôn giáo như cửa sổ kiếng nhuộm màu. Chùa có một bộ sưu tập các tượng Phật làm bằng đồng đặt thành hàng trong hiên.






Chùa Pho (Đền Phật nằm)
Ngôi đền rộng lớn tiếp giáp với khuôn viên Đại Điện, có tượng Phật nằm khổng lồ được dát vàng với chiều dài khoảng 46 mét, chiều cao 15 mét và lòng bàn chân được khảm xà cừ. Ngoài việc chùa làm trung tâm giáo dục công chúng đầu tiên, Chùa Pho nổi tiếng về massage Thái truyền thống.




Chùa Phật Ngọc có tên chính thức đầy đủ là Chùa Phra Sri Rattana Satsadaram.
Chùa tọa lạc tại trung tâm lịch sử Bangkok (quận Phra Nakhon), bên trong khuôn viên của Cung điện Hoàng gia Thái.. Chùa thờ một pho tượng phật được tạc từ một khối ngọc bích nguyên chất, Tượng có kích thước 48cm x 46cm, đặt trên bệ cao 2m. Dù bức tượng này có kích thước nhỏ nhưng đây lại là tượng thánh quan trọng nhất đối với người Thái Lan. Người ta tin rằng tượng này được đặt ở đâu thì ở đó nhiều may mắn, mọi sự phát đạt. Tượng được đặt trong Hoàng Cung thì Hoàng gia may mắn, đất nước phồn vinh, hưng thịnh




Hoàng Cung Thái Lan là một quần thể kiến trúc hoành tráng, được cấu thành bởi 3 khu vực chính: Hoàng cung, Văn phòng Hoàng gia và các ngôi chùa với 3 toà tháp tiêu biểu, mái cong, đỉnh nhọn được xây dựng từ năm 1772, rộng hơn 2km2 thuộc khu trung tâm thủ đô Bangkok.
Nơi đây có một điểm đặc biệt nổi trội, không dễ phai mờ trong tâm trí khách viếng thăm, đó là những tháp vàng, chùa vàng. Bất cứ lúc nào, và nhất là buổi chiều tà, Hoàng Cung vàng rực, toả sáng lấp lánh một vùng đất, vùng trời thành phố. Không phải sự phản chiếu của nắng gió mà là sự phát sáng của những lá vàng 24 cara dát trên các tháp chùa. Tháp thứ nhất như một biệt thự cao tầng hình ngọn núi được bao bọc bởi hàng triệu lá vàng dát mỏng và được chuyển về từ Italia. Tháp thứ hai dùng để lưu giữ các vật quý của vua và đặt các bức tượng lớn hình tám nhà vua triều đại Rama đã qua đời. Tháp thứ ba dùng để bảo quản toàn bộ Kinh Phật Thái Lan và những bộ kinh tiêu biểu mang sắc thái riêng trên thế giới. Ngoài ra còn tám tháp nhỏ nữa chuyên thờ tượng và tro của tám vị vua tiền nhiệm, từ Rama I đến Rama VIII. Hoàng Cung được bảo vệ hết sức nghiêm ngặt. Ngay ở cổng chính là vọng gác lớn với một đơn vị lính Hoàng gia đông đảo, tinh nhuệ, được huấn luyện công phu, ngày đêm tuần tiễu, canh giữ.







Thế giới Safari
Phức hợp 120 ha này cũng ở ngoại ô Minburi, theo cây số 9 trên đường Raminthra, được chia thành bốn khu vực tên là Công viên Safari nơi nhiều động vật có vú Châu Á và Châu Phi sinh sống, Công viên Chim, Đảo Macai và Góc trò chơi.

















Vài ảnh kỷ niệm ở Thái Lan









PATTAYA

Pattaya trước kia là một làng chài nhỏ ven biển. Nhưng ngày nay, nó trở thành phố biển nổi tiếng khắp thế giới và được mệnh danh là “thành phố đêm” với những nàng vũ công kiều diễm, xinh đẹp tuyệt vời, biểu diễn những màn múa thoát y và các vũ điệu quyến rũ, độc đáo.Khi màn đêm buông xuống, Pattaya trở nên nhộn nhịp khác thường. Những quán bar, vũ trường, sòng bạc, các tụ điểm ăn chơi sáng rực đèn mầu và tấp nập du khách đến thư giãn giải trí.
Nằm cách Bangkok 130 km về phía Đông Nam, Pattaya là nơi có bãi biển cát trắng thơ mộng và đẹp vào loại nhất Đông Nam á. Tại đây, du khách sẽ có cơ hội đi cano tham quan Đảo San hô (Coral island). Du khách có thể tự do tắm biển trên các bãi biển đẹp nhất và mua vé tham gia các trò chơi giải trí hấp dẫn và thám hiểm đại dương. Trong những năm gần đây, Pattaya đã trở thành một khu du lịch sầm uất, cùng với cơ sở hạ tầng phát triển như: khách sạn, trung tâm hội nghị, và nhiều sản phẩm du lịch khác. Dịch vụ du lịch xe bus bãi biển đã giúp người dân và du khách thăm quan




Khởi hành đi Pattaya, trên đường vào thăm Trại cọp Sriacha với show diễn xiếc của Cọp, Khỉ, Cá Sấu. Tối thưởng thức chương trình văn nghệ đặc sắc Alcazar show hoặc Tiffany show do các nam vũ công pede đã giải phẫu thành nữ trình diễn. Rồi lên tàu cao tốc ra thăm đảo Coral. Tại có thể tắm biển hoặc tham gia các trò chơi thể thao nước như nhảy dù, trượt nước, jetski, lặn biển, bắn súng… (chi phí tự thanh toán). Dùng cơm trưa. Buổi chiều thăm quan trung tâm Yến Huyết, làng văn hóa dân tộc Nong Nooch, thưởng thức chương trình Múa cổ Truyền, Boxing Thái, Đám cưới Thái..va Elephant Show. Dùng cơm chiều. Tối tự do dạo chơi khu Walking street - thế giới giải trí về đêm tại Pattaya.

Tiffanys show

Là chương trình độc đáo khi đến du lịch Pattaya do các diễn viên nam đã giải phẫu thành nữ biểu diễn với những màn trình diễn đầy ấn tượng có từ cách đây 30 năm. Điều gây ấn tượng nhất cho du khách lại là nhan sắc của họ dù biết rằng đó là kết quả của… dao kéo. "Quá đẹp!" là câu được sử dụng nhiều nhất dành cho show diễn này











Gần đây Tiffany Show có trình diễn mặc áo dài VN và hát tiếng Việt









.


Tạm biệt Thái lan !!

Thứ Bảy, tháng 12 04, 2010

TO BE OR NOT TO BE


Suy nghĩ nhân ngày Thương hiệu Việt Nam- 20/4/2008

Tồn tại hay không tồn tại ( To be or not to be) là thành ngữ trong vở kịch Hamlet nổi tiếng của kịch tác gia người Anh - Shakespear. Trong đời sống bình thường hàng ngày, cuộc đời của một con người, chứa đầy những rủi ro giữa sự thành đạt hay bất thành về sự nghiệp, tình yêu, ước mơ hay tham vọng .Đối với người này có thể dễ dàng đạt được mọi thứ ( chưa đề cập đến khía cạnh có năng khiếu cơ hội hay thủ đọan, nhiều khi lại là yếu tố cần cho nghệ thuật quản lý ), nhưng ngược lại đối với người khác thì mọi cái không phải dễ dàng, có khi phải trả giá. Âu cũng là số phận ( the destiny) mà Ông Trời chỉ dành cho mỗi người một thân phận riêng không ai giống ai hòan tòan Vì vậy từ xa xưa môn bói tóan, tử vi, hay thói quen đến lễ cửa Phật, cửa Chúa để cầu xin điều tốt lành hay cầu xin sự phỏng đóan hậu vận đã phổ biến đến mức thành tục lệ .Ngày nay thời buổi kinh tế tri thức ( nôm na là thởi buổi chỉ cần một cú click chuột PC đã có thể tức khắc tiếp cận với kiến thức của cộng đồng, xã hội trong nước, thậm chí còn ra cả nước ngòai, như các nước trong các khu vực khác nhau và cả thế giới để áp dụng đưa đến hiệu quả kinh tế về thời gian và tiền bạc- The time is as money .
Về kinh tế trí thức đã có nhiều tranh luận, hội thảo ở nước ta, theo TS Ngô Vĩnh Long ( giảng viên đại học Maine-Mỹ) cho là kinh tế trí thức thực chất bắt nguồn thừ khái niệm phổ biến là Knowledge based economy ( nền kinh tế dựa trên hai nền tảng cơ bản là “ công nghệ thông tin” và “ kiến thức của con người" , ở Mỹ người ta còn gọi đó là nền kinh tế mới NAE – New American Economy hay New Economy . Vì vậy trong thời đại của NE kiến thức của con người đóng một vai trò rất quan trọng, vì công nghệ thông tin chỉ là công cụ và lại thay đổi và phát triển liên tục nhờ những tiến bộ về KHCN, nếu con người không nắm bắt được những kiến thức mới và thành thạo sử dụng các thiết bị thông tin truyền thông thì không thể làm việc có hiệu quả kinh tế .Do đó đã hình thành môn khoa học Human resources management ( Quản lý nguồn nhân lực ). Một vị GĐ thời bao cấp chỉ cần đủ phẩm chất chính trị ? là có thể làm việc từ vị trí này sang vị trí khác, có khi còn chéo nghề.Nhưng ngày nay đã có nhiều lớp đào tạo GĐ khác nhau như: GĐ Điều Hành –CEO ( Chief Executive Officer ); GĐ Kinh doanh ( Sales and Marketing Manager);GĐ Tài chính ( Financial Manager);Giám đốc Nhân lực (Human Resoureces Manager)Giám đốc chất lượng ( Total Quality Manager); GĐ dự án( Project Manager) ......

Đối với các DNNhỏ vàVừa thường chỉ có 1 GĐĐH theo kiểu N+1, nghĩa là phải kiêm nhiệm các chức năng của các GĐ chuyên sâu khác. Cạnh tranh là đặc điểm nổi bật nhất của Kinh tế thị trường, do đó yêu cầu về chất lượng nhân sự rất cao từ BGĐ đến nhân viên, do thương trường cũng là chiến trường. Vì vậy bên Pháp có câu : La plus grande immoralité est de faire un métier qu’on ne sait pas” (Điều vô đạo đức nhất là làm nghề mà mình không biết ) Do đó yêu cầu về tự học rất cao khi chuyển từ lĩnh vực nghề nghiệp này sang nghề nghiệp khác. Trong thời buổi nào cũng vậy dù là góc độ Nhà nước hay góc độ tư nhân cũng cần rất nhiều người tài ( hiểu nôm na là những người thạo việc, biết nhìn xa trông rộng và có trách nhiệm ). Khái niệm thế nào là người tài cũng có nhiều ý kiến khác nhau, riêng về khía cạnh kinh doanh ( business) người ta hay nêu 10 kỹ năng của người tài là :

1. Rành về kỹ thuật ( Technological savvy) vì trong thởi buổi KHCN phát triển mạnh mẽ như ngày nay không có lĩnh vực nào không liên quan đến KT hay CN, dù ít hay nhiều cũng phải biết những khái niệm cơ bản.

2. Có khả năng quản lý kiến thức: ( Knowledge management) đó là khả năng biết thu thập, sử lý và áp dụng thông tin trong kinh doanh.

3. Có khả năng giữ được sự cân bằng về tình cảm( Emotional balance ) Kinh doanh là phải biết đối phó với nhiều bất trắc rủi ro, nhiều khi chưa lường hết được, rồi lại bị sự chi phối tâm+lực để cân bằng giữa nhu cầu của cá nhân , gia đình với nhu cầu công việc của công ty.Giữ được thăng bằng về tâm hồn là tránh hay giảm được stress là căn bệnh mà giới doanh nhân thường gặp.

4. Biết chủ động trong mối quan hệ ( Relationship management)

Trong nội bộ công ty cũng có nhiều quan hệ với nhân viên chính làm việc thường xuyên theo HĐLĐ, nhân viên phụ làm bán thời gian,cộng tác viên, nhân viên tạp vụ….Ngòai công ty có quan hệ với các cơ quan quản lý trực tiếp (thường là thuế ,sở KHĐT…) với khách hàng tiềm năng và triển vọng,với các đồng nghiệp tốt và kể cả các đối thủ cạnh tranh.Chủ động trong quan hệ là biết mình biết người để có đối sách thích hợp,vì vậy trong thời gian gần đây còn xuất hiện nghề PR – Public relation( Quan hệ cộng đồng )

5. Khả năng thích ứng tốt với công việc ( Adaptability )

Trong diễn biến triển khai công việc hàng ngày đã xuất hiện nhiều tình huống thuận lợi cũng như khó khăn, đòi hỏi từ nhân viên đến GĐ phải có tính năng động ( dynamic) để thích ứng với tình huống xảy ra với tư cách là một người tư vấn (mentor) hay một người biết làm việc theo nhóm (team-player).

6. Hiểu những yêu cầu cơ bản của quản lý nguồn lực(Resources Management )

Nguồn lực trong một DN có nhiều dạng, chủ yếu là nhân lực và trang thiết bị và cơ cấu tổ chức hợp lý.Quản lý nguồn lực dựa trên cơ sở lập ra qui chế họat đông, chức năng nhiệm vụ từng bộ phận và trang bị các phần mềm phục vụ cho công tác quản lý điều hành.

7. Đạo đức kinh doanh ( Business Ethics):
T
ổng hợp của các đạo đức chuẩn mực trong quan hệ nội bộ công ty ( giữa lãnh đạo và nhân viên, giữa nhân viênvà nhân viên) và quan hệ bên ngòai ( giữa công ty và khách hàng ,giữa công ty với
các cơ quan quản lý, giữa công ty với các đối thủ tiềm tàng và cạnh tranh...)
Thọat nhìn thì nghĩ rằng ngày THVN chả có liên quan gì với chi họ Cụ Quang. Nhưng từ thời xa xưa
Cụ Nội Lê Thị Cả (thân sinh ra Cụ Quang ), rồi tiếp nối là Cụ Bà Quang đã họat động kinh doanh với thương hiệu quen biết xa xưa là hiệu thuốc PHÚ ĐỨC, sau này các con cháu như Ông Phạm Vĩnh Di, Phạm Vĩnh Tiến, Phạm Minh Phượng, Đòan Ngọc Khanh , Phạm tuấn Minh, Lê Bạch Hoa, Vũ anh Tuấn, Nguyễn thị Phương Thúy, Phạm Ngọc Cường,Trần thị Bích Uyên,Tô Minh Hương…đã nối tiếp họat động kinh doanh dù với qui mô khá nhỏ bé và nhiều khi cô độc chơi vơi không được " vững chắc" như các Tư nhân Đại Gia có nhiều bệ đỡ và bệ phóng .Thương trương là chiến trường , ở lĩnh vực này cũng cần nhiều người tài như : tính chủ động, tính quyết đóan,tính hòa đồng, tính hài hước, tính hiếu kỳ và tính trách nhiệm….Dù rằng hiện nay đã có nhiều THVN nổi danh trong và ngòai nước ? nhưng nhận thức về bản chất của TH và giá trị của TH cũng chưa phải là thống nhất: Thương hiệu thực chất có hai thành phần : tài sản hữu hình ( là những sản phẩm cụ thể kèm theo nhãn mác, logo, slogan đã đăng ký SHTT) và tài sản vô hình là trình độ quản lý và năng lực của đội ngũ nhân viên của công ty tạo ra chất lượng sản phẩm để đạt được sự thiện cảm và tín nhiệm của người tiêu dùng ( rất khó đăng ký SHTT và định lượng ) Nôm na "Brand ( Thương hiệu ) là Registered trade mark, slogan, logo with customers ‘s confidences "

T.B Theo Báo SGTT số 44 ngày 21/04/2008 chào mừng ngày THVN Bô Công Thương đã tuyển chọn được từ 1000 thương hiệu ra 30 thương hiệu tiêu biểu tham gia chương trình TH Quốc Gia VN đó là các Công ty sau : Agifish,An Phước, Biti's, BM Plasco,Cadivi,Casumina,CMS,Điện Quang,Hòa Bình, Kinh Đô,Minh Long 1,Nhà Bè,OPC, Phong Phú,PTS, Rạng Đông, Robot,Sabeco,Saigontourist Savimex, SJC, Thipaco, Tigifood, Trường Thành, Vietcombank, Vinaconex,VNPT