e

Thứ Ba, tháng 7 13, 2021

Trang trại gió ngoài khơi 1.2 GW Baltic Power Đảm bảo hợp đồng cho sự khác biệt CFD

 


 Trở lại với cái nhìn tổng quan

Trang trại gió ngoài khơi 1.2 GW Baltic Power Đảm bảo hợp đồng cho sự khác biệt

Văn phòng Điều tiết Năng lượng của Ba Lan đã trao hợp đồng chênh lệch (CfD) cho dự án điện gió ngoài khơi 1,2 GW Baltic Power.

Baltic Power được sở hữu và phát triển bởi PKN Orlen của Ba Lan và Northland Power của Canada.

Theo hợp đồng 25 năm, dự án sẽ nhận được các khoản thanh toán bao gồm bất kỳ số dư âm nào của điện được tạo ra ngoài khơi và đưa vào lưới điện, có nghĩa là Baltic Power sẽ được bù đắp cho sự chênh lệch tiềm năng giữa giá điện thị trường và giá thực CfD.

Giải thưởng là một phần trong cam kết của chính phủ Ba Lan, thông qua Đạo luật Gió ngoài khơi của Ba Lan, hỗ trợ giai đoạn ban đầu là 5,9 GW gió ngoài khơi.

Mike Crawley , Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của Northland cho biết: “Chúng tôi vô cùng tự hào được phát triển một dự án gió ngoài khơi quan trọng ở Ba Lan, cùng với đối tác của chúng tôi, PKN Orlen để hỗ trợ đất nước trong các mục tiêu khử cacbon” .

”CfD là một cột mốc quan trọng cung cấp cho dự án sự chắc chắn về doanh thu để tiếp tục phát triển và khẳng định sự tham gia của chúng tôi trong giai đoạn đầu phát triển gió ngoài khơi ở Ba Lan. Sự phát triển toàn diện của Baltic Power sẽ mở rộng sự hiện diện gió ngoài khơi Châu Âu của chúng tôi và giúp chúng tôi thiết lập một trung tâm gió ngoài khơi ở Biển Baltic. ”

CfD được trao ở mức 319,60 PLN / MWh trong tối đa 25 năm và được điều chỉnh theo chỉ số hàng năm bởi chỉ số giá tiêu dùng trung bình hàng năm của Ba Lan. CfD phải được xem xét và phê duyệt cuối cùng từ các cơ quan có thẩm quyền của Ba Lan và Ủy ban Châu Âu.

Theohttps://www.offshorewind.biz/


DỰ ÁN NGHIÊN CỨU VỀ HYDROGEN TỪ OFF-SHORE WIND ENERGY CỦA IRELAND DO NGƯỜI VIỆT NAM CHỦ TRÌ:

 


DỰ ÁN NGHIÊN CỨU VỀ HYDROGEN TỪ OFF-SHORE WIND ENERGY CỦA IRELAND DO NGƯỜI VIỆT NAM CHỦ TRÌ:

Link dưới đây là một thông cáo báo chí (Press release) của dự án H Wind, nghiên cứu về hydrogen từ offshore wind. Dự án được tài trợ từ Science Foundation Ireland và bốn đơn vị là Gas Networks Ireland (Tập đoàn khí đốt Ireland), Equinor (Tập đoàn về Oil và Gas của Na-Uy), ESB (Tập đoàn điện lực Ireland, quản lý một phần nguồn và phần bán lẻ, không quản lý truyền tải và điều độ), và DP Energy ( nhà phát triển ĐGNK). Dự án được đồng chủ trì bởi Dr Nguyen ( Nguyen Dinh ) và Dr Paul Leahy thuộc Trung tâm quốc gia Năng lượng, khí hậu và Biển Ireland (MaREI Centre). Dr Nguyen là một trong các thành viên Ban quản trị của Diễn đàn chúng ta.
Dự án H-Wind với mục đích nghiên cứu Hydrogen như một phương tiện cung cấp năng lượng hiệu quả hơn bằng cách kết hợp giữa mạng lưới điện và mạng lưới khí đốt để sử dụng tối ưu các nguồn gió ngoài khơi của Ireland. Dự án sẽ nghiên cứu xác định các thị trường mới cho hydrogen và đảm bảo rằng Ireland có thể thực hiện chiến lược của EU trong việc tích hợp hệ thống năng lượng. Ngoài ra dự án xem xét tìm các biện pháp giảm chi phí để sản xuất hydro quy mô lớn từ các trang trại gió ngoài khơi, nghiên cứu các quy trình về an toàn hydro, chuỗi giá trị khách hàng và các khuyến nghị chính sách.
Hy vọng qua dự án này Dr Nguyên có thể đóng góp những kiến thức và kinh nghiệm hữu ích cho lộ trình phát triển hydrogen và Điện gió ngoài khơi cho Việt nam.

Chủ Nhật, tháng 7 11, 2021

Nhà máy thủy điện lớn thứ hai trên thế giới đi vào hoạt động

 Nhà máy thủy điện lớn thứ hai trên thế giới đi vào hoạt động

Nhà máy thủy điện Bạch Hạc Than được xây dựng trên sông Kim Sa - một nhánh của sông Dương Tử ở tỉnh Tứ Xuyên và Vân Nam, phía tây nam Trung Quốc. Hiện tại, nhà máy đã bật 2 trong số 16 tổ máy, mỗi tổ máy có công suất 1 GW (1 triệu kW). Nhà máy này dự kiến đi vào hoạt động hết công suất vào tháng 7/2022.
Đập thủy điện Bạch Hạc Than có tổng công suất 16 GW, chỉ đứng sau đập Tam Hiệp tại tỉnh Hồ Bắc (22,5 GW). Đập Bạch Hạc Than khởi công xây dựng vào năm 2017 với tổng mức đầu tư hơn 300 tỷ Nhân dân tệ (46,5 tỷ USD), do Công ty Tam Hiệp Trung Quốc làm chủ đầu tư. Mỗi tổ máy của đập Bạch Hạc Than có chiều cao hơn 50m và nặng hơn 8.000 tấn - tương đương tháp Eiffel.
Chỉ riêng đập Bạch Hạc Than dự kiến giúp nước này giảm lượng tiêu thụ than khoảng 19,68 triệu tấn và giảm phát thải 52 triệu tấn khí thải CO2 mỗi năm. Trung Quốc hiện là một trong những nước thải carbon lớn nhất thế giới.
Cre: Vnexpress & Vneconomy

VTV2

Thứ Bảy, tháng 7 10, 2021

Beautiful Relaxing Music, Peaceful Soothing Instrumental Music

 


VideoTim Janis
Tim Janis

LNG trong hệ thống năng lượng carbon thấp và ‘chuyển động’ của Việt Nam

 


LNG trong hệ thống năng lượng carbon thấp và ‘chuyển động’ của Việt Nam


 - 

 Suy thoái kinh tế khi Covid-19 bùng phát đã ảnh hưởng đến cân bằng cung - cầu khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) trong ngắn, trung hạn; nhưng nhìn xa hơn, loại nhiên liệu ‘quý tộc’ này sẽ như thế nào, đứng ở đâu trong hệ thống năng lượng của Việt Nam, cũng như trên thế giới? Tổng hợp, phân tích của chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam.


Chính sách LNG của Trung Quốc, Nhật Bản, hàm ý cho Việt Nam


Trái đất đã phản ứng mạnh với những thay đổi nhỏ của lượng CO₂, mêtan và các khí nhà kính khác trong khí quyển, nên việc phát thải các khí này phải được giảm bớt cho đến khi toàn bộ hệ thống cân bằng trở lại. Phát thải ròng bằng không có nghĩa là tất cả phát thải khí nhà kính do con người tạo ra phải được loại bỏ khỏi khí quyển thông qua các biện pháp giảm thiểu, do đó làm giảm cân bằng khí hậu thực của trái đất, sau khi loại bỏ thông qua bồn rửa tự nhiên và nhân tạo số không. Bằng cách này, loài người sẽ trung hòa carbon và nhiệt độ toàn cầu sẽ ổn định.

Vai trò của LNG trong hệ thống năng lượng carbon thấp:

Trên khắp thế giới, các quốc gia đang ngày càng áp dụng các mục tiêu không phát thải ròng (net- zero emissions - NZE) để kiểm soát lượng khí thải carbon của họ, phát triển các hệ thống năng lượng carbon thấp hơn và đáp ứng các mục tiêu của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu.

Ủy ban liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) đã chứng minh trong báo cáo gần đây nhất của mình vào năm 2018 rằng: Lượng khí thải ròng phải giảm xuống 0 để ổn định nhiệt độ toàn cầu. Báo cáo cũng nêu rõ rằng: Bất kỳ kịch bản nào không liên quan đến việc giảm phát thải ròng tới 0 sẽ không ngăn chặn được biến đổi khí hậu. Mục tiêu này đã được Thụy Sĩ, EU và nhiều quốc gia khác phê chuẩn theo Thỏa thuận Paris.

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 toàn cầu, năm 2020 chứng kiến ​​một số lượng đáng khích lệ các thông báo không phát thải ròng, bao gồm 3 trong số 10 quốc gia phát thải CO2 nhiều nhất. Trong đó, Trung Quốc với tuyên bố sẽ trở thành trung hòa carbon vào năm 2060, Nhật Bản và Hàn Quốc đặt mục tiêu không phát thải ròng vào năm 2050. Điều này có nghĩa là gần 50% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của thế giới và khoảng 50% lượng khí thải carbon dioxide toàn cầu được cam kết không phát thải ròng.

Việc xây dựng khả năng phục hồi carbon thấp hơn từ Covid-19 và tác động kinh tế sâu rộng của nó cũng như đạt được tiến bộ hướng tới NZE đòi hỏi các giải pháp năng lượng sạch hơn cho tất cả các ngành và đặc biệt là những ngành khó giảm. Và khí tự nhiên có một vai trò quan trọng.

Ví dụ, để đạt được mức NZE, Hàn Quốc đặt mục tiêu giảm sự phụ thuộc vào than đá và tăng tỷ trọng khí đốt và năng lượng tái tạo trong cơ cấu năng lượng quốc gia. Theo đó, sẽ chuyển 24 nhà máy nhiệt điện than sang khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) vào năm 2034 và tăng công suất phát điện tái tạo lên 300%.

Khí tự nhiên - cho dù kết hợp với năng lượng tái tạo hay như một nguồn năng lượng cho các lĩnh vực khó điện khí hóa - giúp giảm phát thải tổng thể. Dự báo đến năm 2040 cho thấy khí đốt và năng lượng tái tạo sẽ cùng nhau chiếm 74% tổng tăng trưởng năng lượng.

Nhu cầu về khí đốt tự nhiên dự kiến ​​sẽ tăng trên 1.200 tỷ mét khối (BCM) trong 20 năm tới. Và khoảng 65% mức tăng trưởng này ước tính đến từ các lĩnh vực phi năng lượng như công nghiệp (sản xuất sắt, thép), dân cư, thương mại và giao thông khi các lựa chọn sử dụng ít carbon hơn được thay thế.

Ví dụ, chuyển đổi từ than sang khí để sản xuất sắt và thép có thể dẫn đến giảm tới 36% CO2.

Bất chấp sự biến động chưa từng có, nhu cầu LNG toàn cầu đã tăng lên 360 triệu tấn. Mặc dù ở mức thấp, sự tăng trưởng phản ánh khả năng phục hồi và tính linh hoạt của LNG.

Trung Quốc bế quan tỏa cảng vào cuối tháng 1/2020 sau sự bùng nổ của Covid-19, các chuyến hàng LNG đến các cảng của quốc gia này chuyển hướng sang Ấn Độ và Hàn Quốc.

Nhu cầu về LNG tăng cao ở châu Âu để cung cấp cho việc chuyển đổi từ than sang khí đốt và thay thế các nguồn cung cấp khí đốt khác - khi châu Á ngày càng rơi vào tình trạng ngừng hoạt động liên quan đến đại dịch.

Nguồn cung linh hoạt của Mỹ đã giúp cân bằng thị trường LNG toàn cầu trong nửa đầu năm 2020. Còn nhu cầu LNG ở Trung Quốc phục hồi khi nước này đạt được tiến bộ trong việc quản lý đại dịch và các đợt đóng cửa giảm bớt.

Vào cuối năm 2020 lượng nhập khẩu LNG của Trung Quốc tăng đáng kể và đạt 67 triệu tấn cho cả năm 2020 - nhiều hơn 7 triệu tấn so với năm 2019. Ấn Độ tăng nhập khẩu 11% vào năm 2020, do nước này tận dụng LNG giá thấp hơn để bổ sung nguồn khí đốt sản xuất trong nước. Ngược lại, các nhà nhập khẩu lớn là Nhật Bản và Hàn Quốc có mức nhập khẩu giảm lần lượt 4% và 2%.

Giá LNG toàn cầu giảm xuống thấp kỷ lục vào đầu năm sau khi bùng phát Covid-19 và nhu cầu giảm LNG cũng giảm theo, nhưng lại đạt mức cao kỷ lục vào tháng 1/2021 do nhu cầu mùa đông, nguồn cung ngừng hoạt động và hạn chế về cơ sở hạ tầng (do không đủ vốn và chuyên gia kỹ thuật để phát triển các cảng nhập khẩu LNG).

Đại dịch Covid-19 cũng ảnh hưởng đến đầu tư nguồn cung trong tương lai khi chỉ có 3 triệu tấn nguồn cung mới được công bố vào năm 2020, giảm nhiều so với dự kiến ​​60 triệu tấn.

Suy thoái kinh tế sau khi Covid-19 bùng phát đã ảnh hưởng đến sự cân bằng cung - cầu LNG trong ngắn và trung hạn. Trên khắp thế giới, việc đóng cửa và đơn đặt hàng tại nhà đã làm trì hoãn tiến độ xây dựng và hoàn thành đối với các dự án hóa lỏng LNG mới. Việc trì hoãn có khả năng làm thắt chặt thị trường toàn cầu trong trung hạn.

Theo dự báo, nhu cầu LNG toàn cầu sẽ đạt 700 triệu tấn vào năm 2040 do nhu cầu về khí đốt tự nhiên tiếp tục tăng mạnh ở châu Á và tăng thêm sức hút trong việc cung cấp năng lượng cho các lĩnh vực khó điện khí hóa. Do đó, sẽ cần đầu tư nhiều hơn vào nguồn cung để tránh chênh lệch cung - cầu ước tính vào giữa thập kỷ hiện tại.

Tự do hóa thị trường hạ nguồn, nguồn khí đốt trong nước suy giảm và nhu cầu về các lựa chọn năng lượng sạch hơn đã dẫn đến số lượng ngày càng tăng của cả người mua và nhà cung cấp LNG trong thập kỷ qua với thị trường LNG toàn cầu đang phát triển để cung cấp nhiều lựa chọn hơn về cấu trúc thương mại. Trong thập kỷ tới, các hợp đồng dài hạn lên tới 110 triệu tấn sẽ hết hạn. Trong bối cảnh các mục tiêu phát thải ròng bằng 0 ngày càng tăng, ngành công nghiệp LNG sẽ cần phải đổi mới ở mọi giai đoạn của chuỗi giá trị để giảm phát thải và đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng cho các ngành khó giảm carbon. [*]

Làn sóng LNG ở Việt Nam bắt đầu từ Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị:

Đối với Việt Nam, trong những năm qua vẫn chưa phải nhập LNG cho sản xuất điện, nhưng Chính phủ ngay từ khi hoạch định Quy hoạch điện VII (ngay những năm 2010 - 2011) đã nhìn thấy trước nguồn cung cấp khí trong nước sẽ không đảm bảo được cho nhu cầu và giai đoạn tới việc nhập khẩu loại nhiên liệu này sẽ xảy ra. Vì vậy, Quy hoạch điện VII đã xác định danh mục dự án khí - điện Trung tâm Điện lực Sơn Mỹ sử dụng nhiên liệu khí hóa lỏng LNG nhập khẩu.

Trong những năm tới, Việt Nam nổi lên với vai trò là một trong những thị trường nhập khẩu khí thiên nhiên hóa lỏng hứa hẹn nhất khu vực châu Á. Quy mô đồ sộ của các dự án nhà máy điện khí và hạ tầng LNG đang được đề xuất đầu tư, cũng như số lượng và sự đa dạng của các nhà đầu tư đang bày tỏ quan tâm là chưa có tiền lệ trong lịch sử ngành điện Việt Nam.

Làn sóng quan tâm này được củng cố từ Nghị quyết 55 NQ-TW được Bộ Chính trị thông qua vào tháng 2 năm 2020 nhằm định hướng lại chiến lược phát triển ngành năng lượng Việt Nam trong thập kỷ tới, với tầm nhìn đến năm 2045.

Nghị quyết đã giới hạn sự tăng trưởng của nhiệt điện than, thay vào đó, đặt ra yêu cầu (cùng với năng lượng tái tạo), phải chú trọng phát triển nhanh chóng nhiệt điện khí LNG, đồng thời phải ưu tiên phát triển hạ tầng nhập khẩu và phân phối loại nhiên liệu này với mục tiêu: Việt Nam phải nhập khẩu 8 tỷ m3 LNG/năm đến 2030 và 15 tỷ m3/năm đến 2045 từ con số 0 hiện nay.

Theo thông lệ xây dựng chính sách tại Việt Nam, những nội dung như vậy trong Nghị quyết đủ để làm căn cứ xây dựng các quy định pháp luật cụ thể, trong đó cho phép tăng tỷ lệ nhiệt điện khí LNG trong cơ cấu nguồn điện quốc gia. Vấn đề này hiện đã trong quá trình thực hiện với việc xây dựng Quy hoạch tổng thể về năng lượng Quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn 2050 và Quy hoạch phát triển Điện lực Quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn tới năm 2045 (QHĐ VIII). Dự thảo gần nhất của QHĐ VIII đề xuất nâng công suất nhiệt điện khí lên gấp 4 lần hiện tại (khoảng 7 GW) vào năm 2030, thành 28 GW, tương đương 21% tổng công suất toàn hệ thống. Phần lớn trong số này dự kiến sẽ sử dụng LNG nhập khẩu.

Hiện nay, công tác chuẩn bị hạ tầng cho nhập khẩu LNG đang được khẩn trương thực hiện cho các dự án nhiệt điện khí (tua bin khí hỗn hợp). Các dự án kho cảng phục vụ nhập khẩu LNG cùng với các nhà máy tua bin khí hỗn hợp dự kiến đưa vào hoạt động trước 2030 gồm:

1/ Chuỗi dự án điện khí Thị Vải, bao gồm khu cảng nhập khẩu 1 triệu tấn LNG/năm (tương đương 1,36 tỷ m3) và các dự án tua bin khí hỗn hợp Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 với tổng công suất gần 1.800 MW, dự kiến đưa vào vận hành năm 2023 - 2024.

2/ Các dự án điện khí Sơn Mỹ 1 và 2 (tỉnh Bình Thuận) với tổng công suất 4.500 MW sử dụng tới 3 triệu tấn LNG/năm, dự kiến bắt đầu hoạt động từ năm 2025 - 2026.

3/ Dự án điện khí Bạc Liêu với nhà máy điện tua bin khí hỗn hợp 3.200 MW, kho cảng LNG nổi lưu trữ và hóa khí công suất 150 - 174 nghìn m3 LNG, nhập khẩu 3 triệu tấn LNG/năm, theo đề xuất của nhà đầu tư Delta Offshore Energy (Mỹ). Nếu được triển khai thuận lợi, dự kiến dự án này sẽ hoàn thành giai đoạn 1 vào cuối năm 2023 và hoàn thành toàn bộ năm 2027.

4/ Ngoài ra, một số dự án điện khí LNG cũng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt bổ sung vào Quy hoạch điện VII (hiệu chỉnh) gồm các nhà máy điện khí LNG Bà Rịa - Vũng Tàu, Quảng Ninh, Chân Mây... Các dự án này hiện đang được lựa chọn chủ đầu tư để triển khai thực hiện./.

TS. NGUYỄN MẠNH HIẾN - HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Thứ Sáu, tháng 7 09, 2021

KHÁI QUÁT VỀ PIN NHIÊN LIỆU (FUEL CELL)

 


KHÁI QUÁT VỀ PIN NHIÊN LIỆU (FUEL CELL)

Bốn thành tố cơ bản của một pin nhiên liệu công nghệ PEM (Proton Exchange Membrane)
Khi hydrogen tiếp xúc với chất xúc tác, hydrogen sẽ chia tách thành các proton và các electron. Proton sau đó sẽ thẩm thấu qua lớp màng lọc sử dụng công nghệ PEM (Proton Exchange Membrane) mà không bị cản trở và bị hút về phía cathode; trong khi đó các electron bị cản lại buột phải đi qua mạch điện ngoài. Khi các electron đi qua mạch điện ngoài, chúng sẽ cung cấp điện năng làm sáng bóng đèn hoặc truyền động cho động cơ. Cuối cùng, các proton của hydrogen và các electron sẽ hợp nhất và cùng với oxygen tạo thành nước ở cuối chu kì.
Chu trình
1. Khí hydro sẽ đi vào hệ pin năng lượng từ phía anode, nơi các tế bào điện hóa (electrochemical) với điện thế sẽ hút chúng về phía các tấm chất xúc tác.
2. Khi các phân tử hydro tiếp xúc với bạch kim (platinum) nơi các tấm xúc tác, chúng sẽ tách thành 02 proton H+ và 02 electron e-.
3. Cùng lúc đó, phía cathode của bộ pin năng lượng, oxygen sẽ được phóng qua các tấm xúc tác, và oxygen sẽ tách thành 02 nguyên tử oxy. Những nguyên tử oxy này tích điện tích âm mạnh sẽ kéo 02 hydrogen proton đi qua lớp màng lọc (membrane).
4. Các electron sẽ đồng thời từ anode qua mạch điện và trở về cathode.
Cấu tạo pin năng lượng (fuel cell module)
Tất cả những phản ứng này xảy ra tại các tế bào pin (cell stack). Các tế bào pin này được tích hợp trong một hệ thống lớn hơn bao gồm cả nhiên liệu đầu vào, nước hợp thành sau phản ứng, các bộ phận kiểm soát khí, làm mát, các phần cứng và phần mềm. Hệ thống pin năng lượng này có nhiều kích cỡ và được sử dụng tùy vào các ứng dụng khác nhau; từ các ứng dụng trong các phương tiện vận tải cho đến công nghiệp, nguồn dự phòng cho lưới điện.
Ưu điểm công nghệ pin năng lượng
Fuel cell sử dụng nguyên tắc chuyển đổi năng lượng trực tiếp theo kiểu hóa-điện, tránh được hiện tượng tắc nghẽn về nhiệt (thermal bottleneck, law of thermodynamic); và vì thế cho nên, công nghệ này mang lại hiệu suất cao hơn hẳn động cơ đốt trong (hóa-nhiệt-cơ).
Nước hợp thành được sản sinh vào cuối chu trình hẳn nhiên sẽ không gây tổn hại môi trường.
Pin năng lượng không có nhiều cơ cấu chuyển động như động cơ đốt trong nên sẽ có độ tin cậy, tuổi thọ và ít duy tu bảo dưỡng hơn.
Nếu hydrogen được trích xuất bằng các nguồn năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió hay thủy điện thì chu trình này hoàn toàn không sinh ra khí thải carbon. Và ta có thể nói đây là công nghệ “zero emission”.



Đặng Ngữ dịch

Bình minh của ngành công nghiệp hydrogen đã ló dạng

 Bình minh của ngành công nghiệp hydrogen đã ló dạng

Một công bố mới đây do đại học Monash University hợp tác với viện Geoscience Australia cho hay, mục tiêu của chính phủ Australia đối với việc sản xuất hydrogen đạt mức giá thấp hơn 02 đô la Úc (1.5 đô Mỹ) sẽ về đích sớm hơn dự kiến.
Tốc độ của việc đạt được mục tiêu này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm việc ứng dụng công nghệ đang gia tăng nhanh chóng, giá thành sản xuất giảm, việc cải thiện hạ tầng hỗ trợ cho việc cung cấp và vận chuyển hydrogen.
Theo mô hình tính toán này, việc tận dụng “off grid” từ nguồn năng lượng mặt trời và năng lượng gió sẽ giúp tối ưu hoá chi phí; cộng thêm các chi phí có liên quan đến nước và điện phân thì giá thành chừng 03 đô Úc (2.2 đô Mỹ) cho một kg hydrogen.
Đặng Ngữ dẫn nguồn từ tạp chí H2 View
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'Hydrogeni ready Drive economic growth and build a carbon neutral economy? Hydrogen can do both. meet the aspirations Americans Renewables problem hard-t marine nydrogen ndustries forward. next years, TODAY Hydrogen benefitting moving people benefit. economy energy solutions. nvestments costs. billion hydrogan pard solutions scale. hydrogen revenue growth across hydrogen Estimated Growth: revenue Between 2030 2050, affordable hydrogen scale across many sectors.o 2050 about heavy fuel shipping fuel aviation globally. Estimated Growth: revenue Continued nvestment hydrogen additional job hamful.N emissions 36% 30% Hydrogen can do more for tomorrow only your support today. catalyzing FCHEA'
43