e

Thứ Ba, tháng 1 07, 2020

Một dự án thần tốc dưới chân Núi Cấm




(PLVN) - Bấm nút khởi công vào ngày 15/1/2019 đến nay, cánh đồng pin năng lượng mặt trời với hơn 300.000 tấm đã phủ kín diện tích hàng trăm hecta đất khô cằn hoang hóa dưới chân Núi Cấm. Chỉ trong vòng 4 tháng, gần 2.000 chuyên gia và công nhân đã làm việc liên tục để lắp ráp thành công hơn 2000 container thiết bị và linh kiện với công nghệ  hiện đại cho thành phố năng lượng sạch lần đầu xuất hiện ở vùng biên giới Tây Nam

Đây có thể xem là một kỳ tích và nó đã được xác lập tại Nhà máy điện NLMT An Hảo ngay dưới chân Núi Cấm, nơi mà trước đó không lâu người dân đã được chiêm ngưỡng “thần xà Hổ mây” vốn chỉ nghe trong giai thoại.

Dự án Nhà máy điện NLMT Sao Mai Solar PV1 tăng tốc cán đích 

Công trình Nhà máy điện NLMT An Hảo (Sao Mai Solar PV1) do Tập đoàn Sao Mai làm chủ đầu tư đã được đấu nối vào điện lưới quốc gia thành công vào khuya ngày 26/5/2019 trong niềm vui, tự hào của hàng ngàn nhân lực trong và ngoài nước lăn xả xúc tiến dự án. Thật khó để hình dung, một công trình trải rộng trên diện tích 120hecta (giai đoạn 1) với khối lượng công việc và thiết bị khổng lồ lại có thể hoàn thành với bước đi thần tốc như vậy. 
Ông Nguyễn Hoàng Minh, Giám đốc Nhà máy điện năng lượng mặt trời An Hảo, vị Tổng chỉ huy điều hành toàn bộ công trình cho biết, Sao Mai Solar PV1 có tổng công suất 210MW, vốn đầu tư gần 6000 tỷ đồng (ở thời điểm hiện tại), được xây dựng trên diện tích 275 hecta đã “về đích” sớm hơn dự kiến. “Đó là kết quả của sự nỗ lực rất lớn của những con người có lý tưởng phát triển quê hương. Sự quyết đoán đúng thời điểm của Ban lãnh đạo Tập đoàn và sự ủng hộ rất lớn và mạnh mẽ của lãnh đạo tỉnh và chính quyền huyện Tịnh Biên”. 

Niềm vui vỡ òa khi đóng điện thành công 
Ông Minh cũng chia sẻ thêm “Trong quá trình thực hiện dự án, do phải tự tạo quỹ đất nên đơn vị đã gặp không ít khó khăn, nhiều lực cản tưởng chừng như không thể vượt qua.  Nhưng với quyết tâm cao độ, Tập đoàn Sao Mai đã thu phục được nhân tâm để có được sự đồng thuận của người dân tộc. Khối đại đoàn kết mà Sao Mai đã làm được như hiện nay đã chứng minh được với cộng đồng, với đất nước, thể hiện văn hóa ứng xử của một Tập đoàn luôn vì lợi ích chung và biết hướng đến mục tiêu to lớn.
Do vậy, dù nằm trên địa hình bán sơn địa, thổ nhưỡng nghèo nàn, sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả nhưng Sao Mai đã biết cách “làm giàu” phủ lên  độ trù phú cho vùng đất vốn dĩ rất cằn cỗi bằng giải pháp ắp đầy tính nhân văn. “Nếu như trước đây, 1.000 m2 đất (khoảng 1 công) chỉ được người dân sang nhượng chưa đến 20 triệu đồng nhưng chẳng có ai ngó tới, thì Sao Mai đã tự thỏa thuận từ 55 triệu/ công lúc ban đầu, sau đó nâng lên là 80 triệu đồng/công, gấp 3 - 4 lần giá trị thật. Điều này, khó có nhà đầu tư nào đủ can đảm, đủ tầm và đủ “tình thương” để gánh vác như Sao Mai”, vị tổng chỉ huy Minh cho biết thêm. 
Có mặt bằng thi công dự án đã khó, việc xây dựng đường dây 220kV dài cả chục km để đấu nối hòa với lưới điện quốc gia lại càng khó khăn hơn. Trong quá trình thực hiện dự án, dù chính quyền địa phương đã tích cực hỗ trợ tạo điều kiện cho chủ đầu tư, song vẫn còn một  số hộ dân cố tình gây “rắc rối”, đòi hỗ trợ “đội khung” một cách phi lý. 
Tuy nhiên, điều đáng mừng là, với tinh thần đặt lợi ích cộng đồng lên trên hết và tâm huyết của nhà đầu tư luôn “đau đáu” cho sự khởi sắc, cuối cùng Sao Mai Group và người dân đã tìm được tiếng nói chung để cùng đồng hành trên “đại lộ năng lượng mặt trời” tầm cỡ. Cùng “khởi động”, cùng “tăng tốc” và “về đích” để xác lập nên kỳ tích không chỉ trên phương diện thời gian mà còn trên phương diện xã hội. 
Kề vai sát cánh với hàng trăm kỹ sư, giám sát người Ấn Độ và người Sao Mai là những lao động rất tích cực tại địa phương, đa phần là người dân tộc Khmer. Đại công trình NLMT đã tạo việc làm và thu nhập cao cho cộng đồng Khmer ở chân Núi Cấm là câu chuyện giữa đời thực chứ không còn là cổ tích. Đặc biệt, sự xuất hiện của dự án đang và sẽ mở ra nhiều cơ hội đột phá trong thu hút nhà đầu tư thứ cấp, phát triển kinh tế -xã hội, tăng thu ngân sách địa phương trong những năm tới.  
Ông Nguyễn Thanh Bình - Chủ tịch UBND tỉnh An Giang ghi nhận và đánh giá cao việc Sao Mai Group triển khai dự án NLMT trên địa bàn tỉnh, ông chia sẻ, “Sao Mai Solar PV1 là một trong những dự án NLMT quan trọng vùng biên giới, góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động địa phương, mang lại nguồn điện phục vụ đời sống, sản xuất cho nhiều hộ dân vùng biên. Qua đó, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống người dân An Giang nói chung và khu vực bảy núi nói riêng”
Bốn tháng cho một dự án nghìn tỷ, tốc độ triển khai “nhanh như chớp” này là chưa từng có  ở khu vực Tây Nam Bộ từ trước tới nay. Sự nỗ lực của các chuyên gia, công nhân và nhà thầu là đương nhiên, song vai trò cầm trịch của Vị Tổng chỉ huy Nguyễn Hoàng Minh, một cựu chiến binh luôn xông pha trên chiến trường khói lửa chống giặc ngoại xâm nay đã không quản ngại vất vả  cho  công cuộc kiến thiết quê hương là điều rất đáng trân trọng, dù ở trong hoàn cảnh nào, ông luôn biết cách xốc tinh thần cho đồng đội và đồng nghiệp của mình. Đứng bên cạnh là Tập đoàn Sao Mai với  tiềm lực tài chính mạnh, sáng suốt tầm nhìn và đưa ra quyết sách đúng thời điểm là “át chủ bài” giải quyết mọi vấn đề để có ngày “hái quả ngọt” như hôm nay.
Quốc Hưng


Thứ Hai, tháng 1 06, 2020

Bring Power to the Future


With over a billion people still without access o electricity, we must all work together to help develop and deploy new technologies to light up the world.
If you’re an IEEE student member, graduate student member or young professional member of PES, you are in the right place to prepare for your future. If you’re NOT a member of PES you’re really missing out for two main reasons: workplace changes, power system changes and industry connections.
Here are some recent statistics on millennials in the workplace:
  • More than 60% of millennials ages 22-32 have changed jobs between one and four times in the past five years.
  • 44% of millennials say they will leave their current position within two years.
  • Millennials will represent nearly 75% of the workforce by 2025.
Where is your next job going to be? Do you have a professional network of colleagues to call on when you want to make “the change?”
A Safe Bet
We had a young professional speak at our PES Student Congress last year who said PES membership is just like fire insurance. You don’t know when you’re going to need it, but when you do it is critical for success. Based on the above millennial statistics, the safe bet is PES membership. Come to your local chapter meetings and our conferences and develop YOUR professional network BEFORE you need it!
PES now has more than 258 professional chapters and 377 student chapters around the world. Chances are there’s one near you. Check out our PES chapter locator online.
These chapters are excellent local networks for your professional development. PES sponsors 21 conferences that are excellent events to meet new colleagues and investigate new opportunities outside your local area.
PES also has 17 technical committees and three coordinating committees working on new standards for the power system. Detailed information can be found on committees online as well.
Everything is Changing
My friend and former PES President Wanda Reeder gave a talk at PowerTech in 2017 and summed it up like this:
Everything’s changing:
  • The way we make it
  • The way we move it
  • The way we use it.
And everything’s changing at the same time. Since her talk, I think we can add one more to the list in 2019: The way we sell it.
Hawaii has already adopted the Ratepayer Protection Act that will require utilities to change their business models and fully decouple revenue and capital expenses.
The traditional power system with central station generation, transmission networks, and radial distribution networks IS going to change. The only question is the pace of change.
Rooftop solar and PV farms are popping up everywhere depending on local regulations. A number of pilots are also already underway with microgrids designed to enhance resiliency and community microgrids designed to share renewable resources within the neighborhood.
IEEE PES is leading the effort to understand these changes brought on by the integration of renewable energy sources with the existing grid and develop standards to make them work effectively and safely.
The mission of PES is just that: to be the leading provider of scientific and engineering information on electric power and energy for the betterment of society, and the preferred professional development source for our members.
Professional Learning
PES has developed tutorials and webinars to help engineers develop and deploy the grid of the future. These resources can be found online. The PES Resource Center is also available to our members to keep current with new developments and earn CEUs and PDHs for their Professional Engineer requirements.
But IEEE PES is more than what you can get out of it. We all want to make a bigger difference and with IEEE PES, you get the opportunity to have your voice heard and your input count.
Student members and young professionals are the future leaders of the IEEE PES society. Now. more than ever, we need your help to bring more power to the future. With over a billion people still without access to electricity, we must all work together to help develop and deploy new technologies to light up the world.
New ideas are required to help design, build and operate the grid of the future. There has never been a time like this. We need you as a PES member to help figure it out!
For more information:
PES Resource Center | https://resourcecenter.ieee-pes.org/
PES Membership Benefits | www.ieee-pes.org/about-pes/member-benefits

Chủ Nhật, tháng 1 05, 2020

Trụ điện gió trị giá 70 tỉ đồng cháy rụi



Vào lúc 7 giờ sáng nay 5.1, một trụ điện gió của nhà máy điện gió Bình Thạnh (REVN), ở H.Tuy Phong, Bình Thuận bị cháy rụi.
Trụ điện gió bị cháy rụi
Ảnh: Quế Hà
Trụ điện gió này đặt ở xã Bình Thạnh, H.Tuy Phong (tỉnh Bình Thuận), cách đường QL1 chừng 800 m, có công suất 1,5 MW được xây dựng từ năm 2009, do Công ty CP tái tạo năng lượng Việt Nam (REVN) làm chủ đầu tư.
Theo giá đầu tư thời điểm xây dựng nhà máy, trị giá một trụ này là khoảng 70 tỉ đồng.
Theo thiết kế, ngay trên trụ cánh quạt có hệ thống báo động cháy nổ. Nhưng việc chữa cháy là rất khó vì trụ tua  bin điện gió này cao tới 80 m. Toàn bộ giai đoạn 1 của dự án gồm 20 trụ (mỗi trụ 1,5 MW). Trụ bị cháy là 5 trụ đầu tiên của dự án phát điện hòa vào lưới điện quốc gia, từ năm 2009. Đây là nhà máy điện gió đầu tiên tại Việt Nam. Hiện nay, mỗi năm nhà máy điện gió Bình Thạnh sản xuất khoảng 85 triệu kWh điện.
Nhà máy điện gió này sử dụng thiết bị và công nghệ của hãng Fulender, Đức.
TheoNews4Vnay

Thứ Bảy, tháng 1 04, 2020

Rio Carnival 2019

Kết quả hình ảnh cho ảnh carnaval

Thứ Năm, tháng 1 02, 2020

Uncovering New Pathways to Lower Carbon: The Path to 2030



Thứ Tư, tháng 1 01, 2020

Top 10 Doanh nghiệp dẫn đầu Năng lượng sạch Việt Nam năm 2019

Top 10 Doanh nghiệp dẫn đầu Năng lượng sạch

 Việt Nam năm 2019


 - 
 Ngày 20/12/2019, Hội đồng Khoa học của Tạp chí Năng lượng Việt Nam (VER) chính thức công bố Bảng xếp hạng VCE 10 -  Top 10 Doanh nghiệp dẫn đầu Năng lượng sạch Việt Nam năm 2019 (Leading clean energy enterprises in Vietnam 2019). Bảng xếp hạng VCE 10 được các nhà khoa học dựa trên kết quả nghiên cứu, đánh giá độc lập từ cơ sở dữ liệu của Bộ Công Thương, EVN, VEA, VER và thông tin tổng hợp dựa trên kết quả thực tế của các doanh nghiệp, chủ đầu tư công bố tham gia đầu tư năng lượng sạch tại Việt Nam hiện nay. Tiêu chí đánh giá Bảng xếp hạng VCE 10 dựa trên (1) quy mô đầu tư nguồn năng lượng tái tạo, (2) cập nhật xu thế năng lượng sạch trên thế giới, (3) công nghệ, thiết bị, (4) các yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo, (5) tốc độ đầu tư phát triển dự án năng lượng sạch, (6) trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội, v.v…


Theo đánh giá của các chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam, Việt Nam có tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo (NLTT). Ngoài các nhà máy thủy điện lớn và vừa đã được phát triển nhiều năm, hiện đã có tổng công suất phát điện trên 19.000 MW, và có trên 3.300 MW công suất từ các nhà máy thủy điện nhỏ. Tuy nhiên, đến nay tiềm năng thủy điện còn lại không nhiều, (khoảng dưới 1.000 MW các thủy điện vừa và trên 3.000 thủy điện nhỏ - dưới 30 MW). Nhưng tiềm năng điện mặt trời và điện gió từ nhiều nguồn khảo sát, đánh giá là rất lớn. Ước tính tiềm năng kỹ thuật của điện mặt trời khoảng trên 330 ngàn MWp và điện gió từ 27 - 140 ngàn MW [1].
Với chủ trương thúc đẩy phát triển NLTT, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách khuyến khích các loại hình nguồn điện NLTT qua các cơ chế “chi phí tránh được”, cơ chế Feed-in-tariff, net mettering… cho các nguồn thủy điện, điện sinh khối, điện gió, điện mặt trời. Nhờ đó, trong các năm gần đây nhiều nhà đầu tư nhà nước, cũng như tư nhân trong và ngoài nước đã xúc tiến xây dựng nhiều dự án, đưa tỷ lệ các nguồn điện NLTT được tăng lên nhanh chóng.
Để động viên khuyến khích thêm việc phát triển nguồn NLTT, đồng thời tìm hiểu những nhân tố về áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, những thuận lợi, khó khăn và nguyện vọng của các nhà đầu tư trong lĩnh vực này, Hội đồng Khoa học của Tạp chí Năng lượng Việt Nam [2] đã sơ bộ tổng hợp và công bố những doanh nghiệp dẫn đầu về đầu tư năng lượng sạch (tính đến hết năm 2019).
Năm 2019 được xem là một năm bùng nổ của ngành năng lượng tái tạo mà chủ đạo là điện gió và điện mặt trời nhờ những chính sách ưu đãi của Chính phủ Việt Nam. Kết quả là sự ghi nhận những đóng góp của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực năng lượng, đặc biệt hướng đến năng lượng thân thiện với môi trường, đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam.
Top 10 doanh nghiệp dẫn đầu năng lượng sạch được các chuyên gia, nhà khoa học Hội đồng Khoa học của Tạp chí Năng lượng Việt Nam bình chọn lần lượt là:
1/ Công ty CP Đầu tư Xây dựng Trung Nam (Trungnam Group).
2/ Công ty CP Năng lượng Dầu Tiếng.
3/ Công ty Cổ phần Tập đoàn Trường Thành Việt Nam (TTVN Group).
4/ Tập đoàn TTC.
5/ Tập Đoàn Bim Group.
6/ Tổng Công ty Cổ phần Thương mại và Xây dựng (Vietracimex).
7/ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
8 Tập Đoàn Sunseap (Thái Lan).
9/ Công ty TNHH Xây dựng Thương mại Du lịch Công Lý.
10/ Tập đoàn Sao Mai.


Tổng công suất nguồn điện của Top 10 doanh nghiệp dẫn đầu năng lượng sạch với danh mục 29 nhà máy điện mặt trời và điện gió là trên 2.300 MW. Trong đó, 2.164,52 MW điện mặt trời và 139,15 MW điện gió, chiếm 49% tổng công suất điện mặt trời, điện gió toàn quốc và chiếm 27,6% tổng nguồn NLTT (không kể thủy điện vừa và lớn).
Trong đó, Trungnam Group giữ đầu bảng trong bảng xếp hạng năm 2019 với 3 dự án nhà máy điện năng lượng tái tạo đã đi vào hoạt động. Trong đó, tại tỉnh Ninh Thuận, Nhà máy điện mặt trời Trung Nam, với tổng công suất 204 MW; Nhà máy điện gió Trung Nam (giai đoạn 1) với tổng công suất 39,95 MW; tại tỉnh Trà Vinh, Nhà máy điện mặt trời Trung Nam Trà Vinh, tổng công suất 140 MW.
Gần đây nhất, Trungnam Group đã tổ chức Lễ phát điện nhà máy điện gió Trung Nam (giai đoạn 2) với tổ máy đầu tiên có công suất 4,0 MW/trụ, là loại tua bin trên đất liền có công suất lớn nhất tại Việt Nam hiện nay, sử dụng công nghệ không hộp số (gearless) và tự động điều chỉnh góc đón gió của CHLB Đức. Đây được xem là những nổ lực lớn của nhà đầu tư trong việc quyết tâm phát triển năng lượng tái tạo.
Bảng xếp hạng VCE 10 dựa trên kết quả nghiên cứu, đánh giá độc lập từ cơ sở dữ liệu của Bộ Công Thương, EVN, VEA và thông tin tổng hợp dựa trên kết quả thực tế của các doanh nghiệp, chủ đầu tư công bố tham gia đầu tư năng lượng sạch tại Việt Nam hiện nay.
Tiêu chí đánh giá Bảng xếp hạng VCE 10 dựa trên (1) quy mô đầu tư nguồn năng lượng tái tạo, (2) cập nhật xu thế năng lượng sạch trên thế giới, (3) công nghệ, thiết bị, (4) các yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo, (5) tốc độ đầu tư phát triển dự án năng lượng sạch, (6) trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội, v.v…
Danh sách Top 10 doanh nghiệp dẫn đầu năng lượng sạch Việt Nam năm 2019:

Ban Tổ chức công bố và xếp hạng chương trình VCE 10 sẽ tiếp tục cập nhật thông tin từ các chủ đầu tư về các dự án đầu tư năng lượng tái tạo của các đơn vị để tổng hợp cho chương trình công bố Bảng xếp hạng VCE 10 - Top 10 Doanh nghiệp dẫn đầu Năng lượng sạch Việt Nam năm 2020.
BTC: Đây là cuộc bình chọn lần đầu tiên được Tạp chí Năng lượng Việt Nam tổ chức, do đó, sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, đặc biệt là trong các tiêu chí đánh giá, lựa chọn. Rất mong nhận được sự quan tâm, chia sẻ, góp ý của các nhà quản lý, nhà khoa học, bạn đọc ở trong nước và quốc tế để chúng tôi cập nhật, bổ sung, hoàn thiện trong Bảng xếp hạng VCE 10 năm 2020 và những năm tiếp theo./.
[1] Nguồn: Dự thảo Quy hoạch tổng thể phát triển năng lượng Việt Nam, năm 2017, Viện Năng lượng.
[2] Hội đồng Khoa học Tạp chí Năng lượng Việt Nam
Chủ trì: Chuyên gia Nguyễn Anh Tuấn
Các ủy viên Hội đồng Khoa học Năng lượng:
1/ PGS, TS. Bùi Huy Phùng
2/ PGS, TS. Nguyễn Cảnh Nam
3/ PGS, TS. Trần Ngọc Toản
4/ TS. Nguyễn Mạnh Hiến
5/ TS. Nguyễn Thành Sơn
6/ ThS. Nguyễn Anh Tuấn
7/ TS. Nguyễn Hồng Minh
8/ TS. Trần Chí Thành
9/ TS. Võ Văn Thuận
10/ TS. Lê Văn Hồng
11/ Chuyên gia Nguyễn Hồng Hải
12/ Chuyên gia Nguyễn Lê Minh
13/ Chuyên gia Hoàng Dương Minh
14/ Chuyên gia Lã Hồng Kỳ
Thông tin liên hệ với Ban Tổ chức bình chọn và xếp hạng VCE 10 - Top 10 Doanh nghiệp dẫn đầu Năng lượng sạch Việt Nam năm 2019.
Hotline: 096.9998811 – Email: toasoan@nangluongvietnam.vn.
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Mười sự kiện nổi bật của ngành Năng lượng Việt Nam năm 2019

 Song hành với những thành tựu phát triển kinh tế ngoạn mục, trong năm qua ngành Năng lượng Việt Nam cũng có những điểm nổi bật cả về chính sách mới của Chính phủ, những thành công đáng ghi nhận ở tầm khu vực và cả những mối quan tâm lớn về đảm bảo an ninh cung cấp năng lượng trong dài hạn, khi mà lượng nhập khẩu than, dầu thô cùng tăng cao. Hành trình bước vào năm mới - 2020, sau khi phân tích, cân nhắc dữ liệu từ các chuyên ngành (điện, than, dầu khí, năng lượng tái tạo...), các chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam đã bình chọn 10 sự kiện nổi bật, quan trọng của ngành Năng lượng Việt Nam năm 2019 để bạn đọc cùng tham khảo.




1/ Lần đầu tiên nhiệm vụ lập Quy hoạch tổng thể về năng lượng Việt Nam (thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050) được Chính phủ giao thực hiện.
Với việc tổng kết đánh giá thực hiện Nghị quyết 18 của Ban chấp hành TW Đảng về chiến lược phát triển ngành năng lượng và những nét chính của Chiến lược phát triển năng lượng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1743/ QĐ-TTg ngày 3/12/2019 giao Nhiệm vụ lập Quy hoạch tổng thể về năng lượng Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050. Nhiệm vụ này cũng được giao hầu như đồng thời với nhiệm vụ lập Quy hoạch điện giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện VIII).
Việc lần đầu tiên lập Quy hoạch tổng thể về năng lượng Việt Nam thể hiện sự đáp ứng mong mỏi của nhiều chuyên gia, nhà quản lý ngành năng lượng lâu nay, về sự cần thiết cân đối, hài hòa, tương hỗ trong phát triển các phân ngành than, điện, dầu khí và năng lượng tái tạo của Việt Nam.
2/ Tổng công suất nguồn năng lượng tái tạo (điện mặt trời, điện gió) vượt 5.000 MW, đứng đầu ASEAN.
Với mốc thời gian năm 2013 Việt Nam chỉ có 46 MW điện gió và 4 MW điện mặt trời (ĐMT), thì đến năm 2019 Việt Nam đã có tổng cộng 5.039 MW công suất hai loại nguồn này, tăng 100 lần và chiếm tỷ lệ 9,2% tổng công suất đặt nguồn điện (bao gồm 274 MW điện gió và 4.765 MW ĐMT, trong đó 325 MW là ĐMT trên mái nhà).
Theo ASEAN Post, hiện nguồn điện mặt trời của Việt Nam chiếm gần 44% khối ASEAN, vượt xa Thái Lan là nước đứng thứ 2 với 2.715 MW.
Trong các nguồn ĐMT, công trình điện mặt trời nổi trên hồ Đa Mi với công suất 47,5 MWp cũng được đưa vào vận hành năm 2019. Đây là loại hình ĐMT tận dụng một phần nhỏ diện tích mặt hồ chứa công trình thủy điện - thủy lợi, làm tăng hiệu quả bức xạ nhiệt mặt trời do được hơi nước làm mát tấm pin, ngăn bớt sự bay hơi nước, tránh sử dụng đất đai và còn sử dụng phối hợp với lưới điện của nhà máy thủy điện, giảm chi phí đầu tư lưới truyền tải.
Điện mặt trời nổi trên hồ Đa Mi cũng là công trình có quy mô chỉ đứng sau ĐMT nổi lớn nhất thế giới 150 MW tại tỉnh An Huy của Trung Quốc.
3/ Tổng công suất nguồn điện Việt Nam đạt mốc 54.880 MW, quy mô đứng thứ 2 khu vực ASEAN và thứ 23 trên thế giới.
Trong cơ cấu nguồn, thủy điện chiếm tỷ lệ 30,8%, nhiệt điện than 36,1%, tua bin khí 13%, các nguồn điện dầu và khác 3,3%, nhập khẩu 1%. Đặc biệt, nguồn điện năng lượng tái tạo - NLTT (bao gồm thủy điện nhỏ, điện mặt trời, điện gió và điện sinh khối) đạt mốc 15,8%.
Nếu theo cách thống kê thông lệ của các nước, NLTT bao gồm cả thủy điện lớn và vừa, thì Việt Nam có tỷ lệ công suất nguồn điện NLTT rất cao, chiếm tới trên 46%.
Trong cơ cấu chủ sở hữu các nhà máy điện, EVN và các Genco (trực thuộc và cổ phần) chiếm 53,6%, còn lại là các chủ đầu khác và nhập khẩu.
Kiểm điểm mấy thông số chính theo Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) cho thấy: Năm 2019 điện thương phẩm ước đạt 209,4 tỷ kWh, thấp hơn 2,17%; công suất cực đại đạt 38.250 MW (đạt xấp xỉ Quy hoạch điện VII - điều chỉnh là 38.415 MW); công suất nguồn thấp hơn 1% so với dự kiến 55.450 MW. Mặc dù một số nguồn điện lớn chậm tiến độ như: Nhiệt điện Thái Bình 2, Long Phú 1, Sông Hậu 2... nhưng các nguồn điện mặt trời, điện gió phát triển bùng nổ đã bù lại công suất.
Tín hiệu đáng mừng là nguồn NLTT tăng, nhưng đáng lo là tình trạng lưới không theo kịp, gây quá tải, nguồn dự phòng thiếu ở miền Nam và công tác vận hành rất khó khăn.
4/ Dịch vụ điện trực tuyến cấp độ 4 của EVN được thực hiện tại Trung tâm hành chính công, hoặc Cổng thông tin dịch vụ công tại 63/63 tỉnh, thành phố trên cả nước.
Theo đó, từ ngày 24/12/2019, khách hàng chỉ cần truy cập địa chỉ trang web: www.dichvucong.gov.vn để có thể đăng ký 12 dịch vụ điện năng:
1/ Cấp điện mới từ lưới điện trung áp.
2/ Cấp điện mới mới từ lưới điện hạ áp.
3/ Thanh toán tiền điện.
4/ Thay đổi công suất sử dụng điện/thay đổi loại công tơ 1 pha, 3 pha.
5/ Thay đổi vị trí thiết bị đo đếm.
6/ Thay đổi mục đích sử dụng điện.
7/ Thay đổi định mức sử dụng điện.
8/ Thay đổi chủ thể Hợp đồng mua bán điện.
9/ Thay đổi thông tin đã đăng ký.
10/ Thay đổi hình thức thanh toán tiền điện.
11/ Gia hạn Hợp đồng mua bán điện.
12/ Chấm dứt Hợp đồng mua bán điện.
Với các dịch vụ điện này, khi thực hiện giao dịch qua Cổng dịch vụ công Quốc gia, mọi hồ sơ, thủ tục của khách hàng sẽ được đơn giản hóa và thuận tiện.
Đây là một tiến bộ đáng ghi nhận của ngành công nghiệp nói chung và ngành điện lực nói riêng. Đồng thời năm 2019 cũng cho thấy 'Chỉ số tiếp cận điện năng' của Việt Nam đạt 88,2/100 điểm tăng 0,24 điểm so với năm 2018 và duy trì thứ hạng 27/190 quốc gia, nền kinh tế trên thế giới và thứ 4 khu vực ASEAN vượt trước 2 năm so với mục tiêu của Chính phủ. Sau 6 năm (2013-2019, chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam cải thiện 129 bậc, là chỉ số có mức độ cải thiện nhiều nhất và là một trong 3 chỉ số có thứ hạng tốt nhất trong 10 chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam.
5/ Khởi công Kho LNG đầu tiên của Việt Nam tại Thị Vải.
Ngày 28/10/2019, tại xã Tân Phước, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) đã tổ chức Lễ Khởi công xây dựng Công trình Kho chứa 1 triệu tấn LNG nhập khẩu tại Thị Vải.
Dự kiến kho LNG Thị Vải sẽ cung cấp khí đốt hóa lỏng nhập khẩu cho các dự án nhà máy tua bin khí hỗn hợp (CCGT) Nhơn Trạch 3 và 4 với tổng công suất 1.500 MW.
Dự án này đã nằm trong Quy hoạch tổng thể phát triển các kho cảng LNG trên toàn quốc, được Chính phủ phê duyệt vào năm 2014, nhưng bị chậm mấy năm vì nhiều lý do. Đây là mốc đánh dấu quan trọng đầu tiên về đa dạng hóa nguồn nhiên liệu năng lượng, tăng cường an ninh cung cấp năng lượng trong điều kiện Việt Nam đã trở thành quốc gia nhập khẩu tịnh năng lượng từ 2015.
Cũng trong năm nay, Tập đoàn AES (Hoa Kỳ) đã được Chính phủ Việt Nam đồng ý cho triển khai đầu tư vào Nhà máy Điện khí Sơn Mỹ 2 (3 x 750 MW) và Kho cảng nhập khí hóa lỏng (LNG) Sơn Mỹ, dự kiến hoàn thành vào khoảng 2024 - 2025, tiếp tục đánh dấu cho việc LNG sẽ dần đóng vai trò đáng kể trong cơ cấu năng lượng của Việt Nam.
6/ Tổng kết 10 năm hoạt động thành công của Biển Đông 01.
Dự án Biển Đông 01 xuất phát từ 2 lô dầu khí Hải Thạch - Mộc Tinh trước đây ký với các công ty nước ngoài. Sau này, 2 lô được hợp nhất lại do Công ty BP điều hành và Việt Nam có tham gia một phần nhỏ thông qua Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP). Năm 2009 PVN đã tiếp nhận lại Biển Đông 01 từ Công ty BP.
Với sự dũng cảm, nỗ lực, được PVN chỉ đạo sát sao, Công ty Điều hành Dầu khí Biển Đông (BIEN DONG POC) và các nhà thầu là Tổng Công ty CP dịch vụ Dầu khí (PTSC), Liên doanh Việt Nga (Vietsopetro), Tổng Công ty Tư vấn Thiết kế Dầu khí (PVE), Tổng Công ty CP Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (PV Drilling) đã triển khai đồng bộ tất cả các hoạt động thiết kế, chế tạo, xây dựng và khoan, tăng cường năng lực thiết kế và chế tạo, trình độ năng lực đội ngũ. Kết quả cụm giàn khai thác và xử lý tại mỏ Hải Thạch - Mộc Tinh, được chúng ta chế tạo, đã đáp ứng được tất cả các yêu cầu khắt khe nhất về kỹ thuật, an toàn tuyệt đối, hoàn toàn có thể cạnh tranh được ở lĩnh vực này trong khu vực và trên thế giới.
Biển Đông 01 có nhiều đặc điểm nổi bật:
Thứ nhất: Được đánh giá là hiệu quả nhất của PVN. Trong 10 năm qua khai thác tuyệt đối an toàn hơn 10 tỷ m3 khí và hơn 17 triệu thùng condensate; tổng doanh thu đã đạt hơn 2,8 tỷ USD trên tổng mức đầu tư và chi phí vận hành cho tới thời điểm hiện nay là hơn 2,9 tỷ USD.
Thứ hai: Đây là công trình dầu khí hoàn toàn do người Việt Nam thiết kế, xây lắp và vận hành.
Thứ ba: Ở cách xa đất liền nhất (320 km tính từ Vũng Tàu).
Thứ tư: Khai thác dầu - khí ở độ sâu nhất (145 mét nước).
Thứ năm: Cấu tạo địa chất ở hai mỏ này là phức tạp và khó khăn nhất thế giới - Chưa một công ty dầu khí nào dám khai thác khí và dầu ở độ sâu gần 4.000 mét, có áp suất 850 atmosphere và nhiệt độ đến 1.750C.
Thứ sáu: Có khối lượng thiết bị xây lắp lớn nhất từ trước tới nay (tổng trọng lượng của hai giàn khai thác Hải Thạch và Mộc Tinh và một giàn xử lý khí là 70 ngàn tấn).
7/ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam được nhất trí giao nhiệm vụ Thư ký ASCOPE giai đoạn 2019-2024.
Kỳ họp lần thứ 45 Hội đồng Dầu khí ASEAN (ASEAN Council on Petroleum - ASCOPE) đã được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam chủ trì tổ chức thành công tại Hà Nội ngày 29 tháng11 năm 2019. Đây là diễn đàn của các nhà lãnh đạo cấp cao của các công ty dầu khí ASEAN về các chủ đề mang tính thời sự như: Chuyển đổi năng lượng toàn cầu, thách thức cho phát triển bền vững và giải pháp để thúc đẩy chuyển đổi năng lượng vì sự phát triển bền vững. Chủ đề chính của Kỳ họp năm nay là “Hợp tác khu vực vì sự phát triển bền vững”. Tham dự Kỳ họp là người đứng đầu các công ty dầu khí/cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí của 10 quốc gia thành viên ASEAN.
Lần đầu tiên trong lịch sử, PVN được nhất trí giao nhiệm vụ Thư ký ASCOPE giai đoạn 2019-2024, thể hiện sự tin tưởng và hỗ trợ của tất cả các quốc gia thành viên.
8/ Triển khai chuỗi dự án đường ống dẫn khí Sao Vàng Đại Nguyệt và Nam Côn Sơn 2 giai đoạn 2 (NCS2).
Có 2 dự án song song trong chuỗi dự án này đã triển khai các phạm vi công việc từ tháng 10 năm nay:
Thứ nhất, dự án thu gom, vận chuyển khí mỏ Sao Vàng - Đại Nguyệt, gồm đường ống từ giàn nén Sao Vàng kết nối với đường ống NCS2 hiện hữu, đồng thời kết nối với mỏ Thiên Ưng - Đại Hùng nhằm thu gom, vận chuyển khí các mỏ Sao Vàng - Đại Nguyệt và Thiên Ưng - Đại Hùng về NCS2.
Thứ hai, đường ống dẫn khí NCS2 giai đoạn 2 là tuyến ống 118 km đấu nối với đoạn đường ống giai đoạn 1 đã hoàn thành năm 2015 để hoàn chỉnh đường ống Nam Côn Sơn 2, đưa khí các mỏ vừa kể tên về bờ kết nối với nhà máy xử lý khí. Dự kiến khi hoàn thành công trình vào cuối quý III/2020, sẽ đưa sản lượng khí khoảng 2-3 tỷ m3/năm vào bờ, bổ sung nguồn khí cho khu vực Đông Nam bộ.
Chuỗi dự án đường ống dẫn khí NCS2 và Sao Vàng Đại Nguyệt có vai trò quan trọng trong nhiệm vụ phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng ngành công nghiệp khí Việt Nam, đồng thời bổ sung nguồn khí đốt đáng kể trong lúc nhiều mỏ khí hiện hữu đang trong giai đoạn suy giảm nhanh.
9/ Nhập khẩu than và dầu mỏ tăng cao đột biến, qua đó cho thấy sự phụ thuộc ngày càng tăng của Việt Nam vào nhập khẩu năng lượng.
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã vượt qua mức ước tính ban đầu là 6,6% - 6,8%, lên đến 7,02%, kéo theo tăng trưởng về nhu cầu năng lượng, đặc biệt là nhu cầu than và dầu mỏ.
Sản lượng than nguyên khai đạt thấp so với Quy hoạch than điều chỉnh 403/2016 được phê duyệt theo Quyết định số 403/2016/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho sản lượng than nhập khẩu tăng cao đột biến.
Tổng cộng sản lượng than nguyên khai toàn ngành năm 2019 ước đạt đạt 47,3 triệu tấn, trong đó sản lượng than hầm lò khoảng 28 triệu tấn, chiếm khoảng 59,2%. Như vậy, so với Quy hoạch than điều chỉnh 403/2016, sản lượng than nguyên khai toàn ngành giảm 9 triệu tấn, trong đó hầm lò giảm hơn 6 triệu tấn. Nguyên nhân chính làm cho sản lượng than không đạt mục tiêu sản lượng của Quy hoạch 403 là do tài nguyên, trữ lượng than trong thực tế không có đủ như dự kiến trong QH 403.
Nhập khẩu than, trong 10 tháng đầu năm 2019 đã tăng hơn gấp đôi so với năm 2018 lên 36,8 triệu tấn. Ước tính cả năm 2019 sản lượng than nhập khẩu sẽ đạt khoảng 42-44 triệu tấn, vượt mốc sản lượng than nhập khẩu 40,3 triệu tấn đề ra cho năm 2020 trong Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030. Như vậy, từ năm 2019 sản lượng than nhập khẩu cân bằng với sản lượng than khai thác trong nước trên thị trường than nội địa, đánh dấu bắt đầu một giai đoạn mới của thị trường than nội địa sẽ nghiêng dần về than nhập khẩu. Theo đó việc sản xuất và tiêu thụ than sẽ tuân thủ nghiêm ngặt hơn cơ chế thị trường.
Nhập khẩu dầu thô đã tăng 80,6% so với cùng kỳ, lên 6,8 triệu tấn trong giai đoạn 10 tháng vừa qua. Ước tính cả năm sản lượng dầu thô nhập khẩu đạt trên 8 triệu tấn.
10/ Chương trình Quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 - 2030 (VNEEP 3).
Nhận thức tầm quan trọng về tiết kiệm năng lượng, an ninh năng lượng, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, Việt Nam đã tích cực triển khai các Chương trình mục tiêu Quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả (VNEEP). Theo đó, Chương trình VNEEP 1 (giai đoạn 2006 - 2010) mức tiết kiệm năng lượng đạt được là 3-4%, tương đương 4,9 triệu TOE; Kết quả của Chương trình VNEEP 2 (giai đoạn 2012 - 2015) mức tiết kiệm năng lượng đạt được là 5,65%, tương đương với 11,2 triệu TOE.
Nhiều năm qua, các chuyên gia ngành năng lượng đã phân tích, đánh giá rằng: Tiết kiệm được 1 đơn vị năng lượng tiêu thụ có thể giảm được gánh nặng đầu tư cho nhà nước và xã hội để sản xuất ra 3-4 đơn vị năng lượng, đồng thời hình thành - nâng cao văn hóa, thói quen sử dụng tiết kiệm - hiệu quả năng lượng cho mọi doanh nghiệp, người dân, hướng tới sự phát triển bền vững.
Với việc kiểm điểm, đánh giá kết quả các Chương trình VNEEP 1 và VNEE 2, nhận định những tiềm năng trong lĩnh vực này còn lớn, cần thiết có chính sách thúc đẩy thêm việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong tình hình Việt Nam đã chuyển thành quốc gia nhập khẩu tịnh năng lượng từ năm 2015, ngày 13/3/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 280/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (giai đoạn 2019 - 2030).
Mục tiêu của VNEEP 3 là: Đạt mức tiết kiệm năng lượng từ 5 - 7% tổng tiêu thụ năng lượng thương mại toàn quốc (trong giai đoạn từ 2019 - 2025), trong đó giảm mức tổn thất điện năng xuống thấp hơn 6,5%; Đạt mức tiết kiệm năng lượng từ 8 - 10% tổng tiêu thụ năng lượng thương mại toàn quốc (trong giai đoạn 2019 - 2030), trong đó giảm mức tổn thất điện năng xuống thấp hơn 6%.
Trong VNEEP 3 đã quy định các chỉ tiêu giảm tiêu hao năng lượng trong nhiều phân ngành kinh tế theo các giai đoạn nêu trên, đồng thời cũng chỉ ra các nhiệm vụ chủ yếu của Chương trình, huy động kinh phí thực hiện; còn các giải pháp thực hiện Chương trình được giao cụ thể cho các bộ, ngành, các địa phương, cũng như các tổ chức sử dụng năng lượng và kêu gọi trách nhiệm của cả cộng đồng./.
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM