e

Thứ Năm, tháng 3 09, 2023

Nữ tiến sĩ đam mê điện Mặt trời

 

Nhận thấy lợi ích to lớn của năng lượng sạch, TS Nguyễn Tuyết Phương quyết tâm đeo đuổi nghiên cứu, đưa những ứng dụng thiết thực nhất vào đời sống.

Về nước nghiên cứu pin quang điện

TS Phương kể, ngay khi tốt nghiệp THPT, chị được tuyển thẳng vào khoa Hóa học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia TPHCM). Đến khi ra trường, chị lại được giữ lại để hoàn thành bằng thạc sĩ rồi sang Đan Mạch làm đề tài cao học.

TS Phương tham gia nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của ĐH Roskilde với đề tài đậm tính ứng dụng “Khảo sát độ bền chất nhạy quang trong pin Mặt trời DSC”.

Từ đề tài này, chị nhận được lời mời nghiên cứu hợp tác của GS. Torben Lund (khoa Hóa, ĐH Roskilde) nhằm ra đời loại pin Mặt trời sử dụng chất màu nhạy quang dễ chế tạo và giá thành chỉ bằng 1/10 so với pin Mặt trời silicon hiện hành. Sau đó vượt qua hàng trăm ứng viên, chị xuất sắc nhận được học bổng toàn phần đào tạo tiến sĩ.

Hoàn thành luận án tiến sĩ, chị quyết định về nước năm 2012 và trở thành giảng viên khoa Hóa học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TPHCM.

Chị kể: “Thời điểm đó, tôi nhận được lời mời làm việc tại châu Âu, đúng với lĩnh vực tôi đeo đuổi, nghiên cứu từ ngày đặt chân ra nước ngoài học. Gia đình cũng khuyên tôi ở lại.

Nhưng tôi đã về. Tôi biết rằng về nước sẽ thiếu thốn nhiều so với nước ngoài, nhưng ngay lúc làm việc tại nước ngoài, tôi luôn tự hỏi mình làm vì cái gì, vì ai và để làm gì?

Lĩnh vực nghiên cứu khoa học cơ bản tôi theo đuổi - với nước ngoài, người ta làm nhiều rồi - nhưng trong nước còn khá hạn chế. Tôi bắt đầu xin các tài trợ đề tài trong nước và quốc tế, công bố các bài báo khoa học.

Sau hai năm, tôi được phê duyệt một đề tài của ĐH Quốc gia TPHCM, một đề tài Nafosted (Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia), một đề tài quốc tế của Viện hàn lâm Khoa học thế giới (TWAS). Nhờ đó có được kinh phí sắm dần trang thiết bị, vật liệu nghiên cứu cho phòng lab của mình tại trường”, TS Phương kể.


Về nước, song chị luôn giữ mối liên lạc với các giáo sư, đầu mối khoa học có được ở các nơi. Từ đó, bên cạnh tự cập nhật thông tin cho chính mình, chị coi đó là cơ hội để trao đổi thời sự, xu hướng nghiên cứu mới của thế giới với các nhà khoa học mà mình biết. Chị cho rằng, cái đáng sợ nhất là mình tụt hậu đẳng cấp khoa học so với chính mình.

Về nước, nữ tiến sĩ cùng với các thầy cô khoa Hóa, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TPHCM thành lập nhóm nghiên cứu về pin Mặt trời. Một trong những sản phẩm nghiên cứu chủ lực là pin quang điện.

Theo TS Tuyết Phương, khả năng ứng dụng nghiên cứu các giải pháp tăng cường độ bền và hiệu năng hoạt động của pin quang điện hóa sử dụng chất màu nhạy quang rất cao.

Nếu pin năng lượng Mặt trời phổ biến hiện nay chỉ có thể lắp trên mái nhà, pin quang điện hóa hoàn toàn cơ động trong việc lắp đặt. Có thể sản xuất trên tấm nhựa, cuộn tròn, gấp khúc được nhưng không làm vỡ cấu trúc của pin.

Vì tính cơ động và chất màu nhạy quang sử dụng, loại pin mà nữ tiến sĩ nghiên cứu có thể dùng như một loại vật liệu trang trí cho bức vách các tòa nhà kính đang có xu hướng nở rộ trong kiến trúc hiện nay.

Hiện thực ước mơ biến ánh sáng thành điện

Nữ tiến sĩ đam mê điện Mặt trời - Ảnh 2.

TS Nguyễn Tuyết Phương.

Pin quang điện hóa sử dụng chất màu nhạy quang, hay còn gọi pin Mặt trời chất màu nhạy quang (dye-sensitized solar cells) là loại pin mới, được xếp vào nhóm thế hệ thứ 3 sau pin silicon, pin màng mỏng vô cơ.

Pin này có ưu điểm dễ chế tạo, giá thành thấp, hiệu quả hoạt động cao (trên 40%) trong điều kiện ánh sáng yếu nên phù hợp các ứng dụng trong nhà.

Nghiên cứu của TS Nguyễn Tuyết Phương tập trung vào 2 yếu tố: Độ bền và hiệu năng hoạt động của pin quang điện hóa sử dụng chất màu nhạy quang phức chất Ruthenium để góp phần đẩy nhanh quá trình thương mại hóa loại pin này.

Điểm đặc biệt là giúp các doanh nghiệp sản xuất ra những tấm dán pin Mặt trời có thể uốn dẻo, bẻ cong, nhiều màu sắc… để sử dụng làm cửa kính cho các tòa nhà cao tầng, vừa đáp ứng thẩm mỹ về mặt kiến trúc vừa chuyển hóa quang năng thành điện năng.

“Pin năng lượng Mặt trời phổ biến trước giờ là loại pin hoạt động theo cơ chế vật lý. Còn với pin quang điện hóa tôi nghiên cứu, phải đến những năm 1990 thế giới mới có những nghiên cứu thành công đầu tiên. Tôi thấy thú vị với hướng đi này, khởi nguồn từ một gợi ý của thầy hướng dẫn tại Đan Mạch.

Tôi nghĩ khả năng ứng dụng nghiên cứu các giải pháp tăng cường độ bền và hiệu năng hoạt động của pin quang điện hóa sử dụng chất màu nhạy quang của tôi rất cao. Nếu pin năng lượng Mặt trời phổ biến hiện nay chỉ có thể lắp trên mái nhà, pin quang điện hóa hoàn toàn cơ động trong việc lắp đặt.

Vì tính cơ động và chất màu nhạy quang sử dụng, loại pin tôi nghiên cứu có thể dùng như một loại vật liệu trang trí cho bức vách các tòa nhà kính. Bạn thử hình dung khi dán vào kính, ngoài trang trí với nhiều màu sắc khác nhau, pin còn giúp giảm nhiệt do hấp thu tia hồng ngoại, giúp ngăn tia UV nguy hại cho sức khỏe chúng ta và có thể sinh ra dòng điện. Vậy có nên dùng không?”, TS Phương hào hứng.

Hiện nhóm nghiên cứu thử nghiệm và vẫn đang mở rộng hướng nghiên cứu với nhiều vật liệu khác nhau để chọn ra loại tốt nhất kèm tiêu chí thân thiện môi trường, giá rẻ.

“Nên nếu có đơn vị nào ở lĩnh vực kiến trúc, xây dựng quan tâm đầu tư sản xuất với quy mô lớn, tôi tin giá thành sẽ chấp nhận được khi thương mại hóa sản phẩm ra thị trường”, TS Phương tự tin.

Có đam mê hãy bước vào con đường nghiên cứu

“Chúng tôi không nghiên cứu để làm ra một tấm pin Mặt trời mà quan tâm đến hiệu năng và độ bền của các thành phần vật liệu cấu thành tấm pin ấy. Dưới tác động của điều kiện tự nhiên, các vật liệu ấy bị thay đổi thế nào, phản ứng với nhau ra sao?

Các nghiên cứu về cơ chế giúp ta hiểu được bản chất của các sản phẩm công nghệ, từ đó dẫn đến những thay đổi để tối ưu hóa quá trình sản xuất, giảm thiểu sự hư hỏng và tăng hiệu năng cho pin. Công trình này là bước phát triển tiếp theo từ luận án tiến sĩ của tôi ở Đan Mạch.

Nghiên cứu này được chúng tôi công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín, trong đó có các tạp chí dẫn đầu trong lĩnh vực chuyên ngành hẹp về năng lượng Mặt trời, khoa học về bề mặt vật liệu. 12 trong số 13 công bố này được đăng trên các tạp chí trong hệ thống ISI - Q1, với tổng chỉ số IF khoảng 49”, TS Phương chia sẻ.

Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cơ bản mà các nhà khoa học như TS Phương đang gặp khi triển khai vào thực tiễn còn hạn chế. Sở dĩ có điều đó là do các nghiên cứu ứng dụng cần phải có sự phối hợp liên ngành và đa ngành; trong khi nghiên cứu của các nhà khoa học tập trung vào chuyên môn sâu và chuyên ngành hẹp.

Mặt khác thị trường khoa học công nghệ hiện nay mới được hình thành, cơ chế chính sách và thông tin khoa học chưa hoàn thiện, còn thiếu kết nối giữa nhà khoa học và doanh nghiệp; nhiều sản phẩm nghiên cứu hữu ích, có giá trị thực tiễn cao nhưng không thể có địa chỉ chuyển giao.

Trong khi các doanh nghiệp cần sản phẩm lại đi tìm kiếm, thậm chí phải mua của nước ngoài với giá cao. Từ đó, gây lãng phí cả tiền bạc, thời gian và chất xám của nguồn lực trong nước.

TS Phương nhắn nhủ người làm khoa học trẻ: “Nghiên cứu không chỉ là ứng dụng ngay, còn cho bạn giá trị về kiến thức, tư duy khoa học làm cơ sở để cập nhật kiến thức mới, là nền tảng quan trọng để phát triển tiếp lên ứng dụng một cách chắc chắn và đúng hướng.

Tôi cũng muốn nhắn gửi rằng không nên chỉ đòi hỏi kết quả nghiên cứu phải có tính ứng dụng ngay hoặc ứng dụng nghĩa là phải cầm, nắm được. Chẳng hạn nghiên cứu của tôi là cơ bản nhưng nhà sản xuất có thể dựa vào đó để chế tạo pin với thành phần chất điện ly đúng để cải thiện độ bền cho pin”.

TS Phương khuyến khích các bạn trẻ nếu thật sự đam mê và muốn khám phá khoa học, hãy mạnh dạn bước vào con đường nghiên cứu. Có rất nhiều lối đi sẽ mở ra mà ngay từ khi bắt đầu bạn khó hình dung hết được. Ngay cả khi bạn gần như mất phương hướng trong thời gian tìm tòi hướng đi của riêng mình, cũng đừng quá hoang mang.

"Trong khả năng có thể, tôi luôn giúp sinh viên, học viên của mình tiếp cận những nơi có điều kiện nghiên cứu tốt nhất. Tôi đã gửi được một số bạn ra nước ngoài, có khi chỉ là khóa học vài tháng, nhưng sẽ giúp các bạn được nhiều đấy. Với đồng nghiệp cũng vậy, nếu có thể giúp được gì cho họ, tôi luôn sẵn lòng", TS Phương nói.

Chị quan niệm, truyền đạt những kiến thức hấp thụ cho những sinh viên năng động, mở ra hướng nghiên cứu nguồn năng lượng từ pin Mặt trời cho các bạn trẻ đeo đuổi đam mê là hạnh phúc, không gì có thể so sánh được.

TheoSoha

Thứ Tư, tháng 3 08, 2023

Sản xuất hydro xanh tại Việt Nam: Tất yếu nhưng còn nhiều khó khăn

 Việc sản xuất hydro (hydrogen) sẽ góp phần quan trọng giảm phát thải khí CO2 tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc phát triển phải có lộ trình và "gỡ" các vướng mắc.

Ứng dụng công nghệ Hydrogen trong chuyển đổi năng lượng xanhLILAMA gia công chế tạo thiết bị cho nhà máy sản xuất hydro tại Hoa Kỳ

Phát triển, sản xuất hyrdo (hydrogen) là tất yếu và đóng góp quan trọng trong giảm phát thải khí CO2

Tại Hội thảo “Ứng dụng và phát triển công nghệ Hydrogen trong việc chuyển đổi năng lượng xanh” do Trung tâm ASEAN – Nhật Bản (AJC) phối hợp với Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản và Cục Xúc tiến Thương mại – Bộ Công Thương tổ chức ngày 7/3 tại TP. Đà Nẵng, ông Đặng Hải Anh – Vụ Dầu khí và Than (Bộ Công Thương) cho biết, tại Dự thảo Quy hoạch năng lượng, dự báo tổng cung cấp năng lượng sơ cấp đạt 160 – 171 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2030 và đạt 262 – 296 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2050. Tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng sơ cấp chiếm 15 – 20% vào năm 2030 và chiếm 70 – 80% vào năm 2050. Hydrogen và nhiên liệu gốc hydrogen dự kiến đạt khoảng 16 – 22 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2050.

Sản xuất hydro xanh tại Việt Nam: Tất yếu nhưng còn nhiều khó khăn
Việc phát triển, sản xuất hydro tại Việt Nam là tất yếu trong tương lai, và góp phần quan trọng trong việc hướng tới trung hòa carbon

Theo lộ trình phát triển dự kiến, đến năm 2030 sẽ phát triển các dự án hydrogen quy mô nhỏ. Sản lượng hydrogen đạt khoảng 20 – 25 ngàn tấn vào năm 2030. Trong giai đoạn 2031 – 2050, nhu cầu hydrogen sẽ tăng mạnh trong lĩnh vực sản xuất điện, công nghiệp, giao thông vận tải; đẩy mạnh sản xuất hydrogen bằng công nghệ điện phân (điện tái tạo) và khí hóa than. Mục tiêu đến năm 2050, sản lượng hydrogen sẽ đạt khoảng 25 triệu tấn, nhiên liệu tổng hợp từ nguồn gốc hydro đạt khoảng 2,5 – 2,9 triệu tấn.

Bà Nguyễn Thị Thương – Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, Bộ Công Thương cho hay, theo lộ trình chuyển đổi nhiên liệu cho các nhà máy điện than, khí trong dự thảo Quy hoạch điện VIII, đến năm 2030 sẽ không phát triển thêm nguồn điện than; chỉ phát triển các nguồn điện LNG trước năm 2035 và ưu tiên sử dụng hết lượng khí khai thác trong nước cho sản xuất điện để tăng tính tự chủ trong sản xuất điện, khi cần thiết sẽ thực hiện đốt kèm nhiên liệu hydrogen. Vì vậy, phát triển hydro là xu thế tất yếu trong giai đoạn tới và cần lộ trình thực hiện.

Dự kiến đến năm 2030, tổng công suất các nhà máy điện của Việt Nam đạt khoảng 121.757 – 145.989 MW. Trong đó, thủy điện chiếm 19,8 – 22,5%; nhiệt điện than chiếm 20,6 – 29,8%; nhiệt điện khí trong nước và LNG chiếm 24,9 – 27%; năng lượng tái tạo ngoài thủy điện chiếm 18 – 27%; nhập khẩu điện chiếm 3,3 – 3,4%. Với chương trình phát triển nguồn như vậy, phát thải khí CO2 từ sản xuất điện của Việt Nam đạt định 239 triệu tấn vào năm 2035; giảm xuống còn 115 triệu tấn vào năm 2045 và chỉ còn 30 triệu tấn vào năm 2050, góp phần quan trọng trong đảm bảo cam kết của Việt Nam tại hội nghị COP26.

Sản xuất hydro xanh tại Việt Nam: Tất yếu nhưng còn nhiều “chướng ngại vật”
Nguyễn Phúc Thanh – Giám đốc Công ty Hitachi Zosen Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội cho rằng sản xuất hydrogen tại Việt Nam còn vướng pháp lý, cơ chế hỗ trợ, đặc biệt là cơ chế hỗ trợ tài chính

Còn nhiều khó khăn và chờ cơ chế

Là một trong những đơn vị cung ứng giải pháp xử lý môi trường, giải pháp về năng lượng hàng đầu Nhật Bản, ông Nguyễn Phúc Thanh – Giám đốc Công ty Hitachi Zosen Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội cho rằng, tại Việt Nam, hiện nay việc sản xuất hydrogen xanh mới ở giai đoạn chuẩn bị bắt đầu và đang còn rất nhiều khó khăn về pháp lý, cơ chế hỗ trợ, đặc biệt là các công nghệ tiên tiến này đòi hỏi chi phí đầu tư lớn, rất cần cơ chế hỗ trợ về tài chính.

“Tôi hi vọng trong thời gian sớm sắp tới Việt Nam sẽ có những chính sách hỗ trợ cho sản xuất hydrogen phát triển”, ông Thanh nói và cho biết, ở các nước đang phát triển như Nhật Bản, Mỹ, Châu Âu, công nghệ sản xuất hydrogen đang rất được thúc đẩy.

“Trong tương lai gần công nghệ này sẽ trở thành năng lượng thay thế trong tương lai. Tại Việt Nam tôi đang thấy có một sự chuẩn bị từ bây giờ. Trong khoảng 5 – 10 năm nữa thì sự chuẩn bị này là rất cần thiết”, ông Thanh nhìn nhận.

Đại điện Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo cho biết, việc phát triển, sản xuất hydro xanh còn đang gặp nhiều vướng mắc như để phát triển các dự án nguồn điện năng lượng tái tạo để sản xuất hydro xanh phải phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực; nhu cầu hydro xanh các giai đoạn chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt, do đó, khó khăn trong việc quy hoạch nguồn năng lượng tái tạo để sản xuất hydro xanh. Ngoài ra, giá thành hydro hiện khá cao, dẫn đến giá thành sản xuất điện từ hydro cao, khó cạnh tranh….

Đồng tình với quan điểm này, theo ông Đặng Hải Anh – Vụ Dầu khí và Than, việc sản xuất và tiêu thụ hydrogen tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức đó là công nghệ điện phân với chi phí đầu tư lớn, phí vận hành và bảo trì cao; Thiếu hành lang pháp lý quản lý lĩnh vực hydrogen như tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy định an toàn…; chưa có cơ chế chứng nhận Green Hydrogen; Thiếu hệ thống phục vụ cơ sở hạ tầng hydro và phát triển chuỗi cung ứng nói riêng; và thách thức về nguồn năng lượng tái tạo cho sản xuất hydrogen.

Ông Hải Anh cho rằng, nếu khắc phục được thách thức, sản xuất được hydrogen, Việt Nam sẽ đứng trước nhiều cơ hội như đã có thị trường sẵn có cho đầu ra của hydro xanh như sản xuất amoniac, thép, phân bón, hóa chất, lọc hóa dầu thay thế cho hydro xám (hydro được sản xuất từ nguồn khí thiên nhiên, than đá) trong nước; có tiềm năng sử dụng lớn trong tương lai để khử carbon trong lĩnh vực giao thông vận tải. Sử dụng hydrogen sẽ giảm tính gián đoạn của các nguồn năng lượng tái tạo qua việc lưu trữ trong thời gian dài. Và việc sản xuất hydrogen (với giá thành cạnh tranh) hoàn toàn có cơ hội để xuất khẩu sang các nền kinh tế lớn ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

TheoCongthuong - Vũ Lê - Đức Thảo

Thứ Sáu, tháng 3 03, 2023

Bức tranh ngành điện năm 2022: Nhóm thủy điện đại thắng, nhóm nhiệt điện hụt hơi

 Năm 2022, nhóm thủy điện "toả sáng" nhờ vào nguồn nước tự nhiên dồi dào, nhiều công ty báo lãi kỷ lục. Trong khi đó, nhóm điện than và điện khí hồi phục nhẹ so với mức nền thấp của năm 2021, nhưng biên lợi nhuận giảm sút do giá nhiên liệu đầu vào cao. Còn các công ty năng lượng tái tạo vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định.

Một năm đại thắng của nhóm thủy điện

Năm 2022 được coi là năm “gặp thời” của nhóm doanh nghiệp thủy điện. Với nguồn đầu vào phụ thuộc hoàn toàn vào tình hình thời tiết, hiện tượng La Nina gây mưa nhiều đem lại nguồn nước dồi dào cho các hồ chứa đã giúp các công ty trong ngành đồng loạt báo doanh thu tăng trưởng hai, ba chữ số năm 2022.

Thực tế kết quả tích cực diễn ra nửa đầu năm, sau đó có xu hướng chậm lại nửa cuối năm khi lượng mưa ít hơn. Nhìn chung, hầu hết các công ty đều báo lãi sau thuế cả năm tăng đột biến, nhiều công ty có lợi nhuận phá đỉnh kỷ lục.

Đơn cử, CTCP Thủy điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh (Mã: VSH), công ty con của Cơ điện lạnh (Mã: REE) năm qua đã có một năm "toả sáng" với doanh thu kỷ lục 3.084 tỷ đồng, tăng 91% so với năm 2021 và đứng đầu bảng doanh thu của nhóm thủy điện. Trừ đi các chi phí, VSH lãi sau thuế 1.264 tỷ đồng, gấp 3,2 lần cùng kỳ.

Thủy điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi (Mã: DNH) xếp thứ hai về doanh thu nhưng lại là quán quân về lợi nhuận trong nhóm thủy điện. Năm 2022, nhà máy nằm tại khu vực Đồng Nai này lãi sau thuế 1.520 tỷ đồng, cao nhất trong lịch sử hoạt động. 

 Loạt doanh nghiệp nhóm thủy điện thăng hoa về lợi nhuận nhờ tình hình thủy văn thuận lợi trong năm 2022.

Nhóm nhiệt điện gặp bất lợi do giá than, giá khí đầu vào cao

Nếu như thủy điện có câu chuyện sáng sủa trong năm 2022, ngược lại bức tranh của nhóm nhiệt điện lại kém sắc hơn. Khi các công ty thủy điện được mùa, Tập đoàn Điện lực EVN sẽ ưu tiên huy động nguồn điện giá rẻ, đồng nghĩa nhóm nhiệt điện sẽ gặp bất lợi. Chưa kể, nguồn than, khí đầu vào neo cao là yếu tố làm thu hẹp lợi nhuận của nhóm doanh nghiệp này.

Đối với nhóm nhiệt điện than, quý cuối năm, Nhiệt điện Quảng Ninh (Mã: QTP) ghi nhận lợi nhuận sau thuế giảm tới 86% còn 25 tỷ đồng do sản lượng điện thương phẩm đi xuống trong khi giá than đầu vào cao đột biến.

Thậm chí Nhiệt điện Hải Phòng (Mã: HND) phải báo lỗ 7,5 tỷ đồng quý IV/2022 do sản lượng Qc thấp, tổ máy số 4 đại tu.

Dù vậy cả năm, ba công ty đại diện cho nhóm nhiệt điện than vẫn có lợi nhuận sau thuế tăng trưởng 2 chữ số so với mức nền rất thấp của năm 2021. 

Nhóm nhiệt điện than ghi nhận lợi nhuận giảm sút trong hai năm 2021 và 2022 do giá than đầu vào bắt đầu tăng từ quý I/2021. (Nguồn: MH tổng hợp từ BCTC của doanh nghiệp).

Với nhóm nhiệt điện khí, PV Power (Mã: POW) ghi nhận doanh thu năm 2022 đạt 28.235 tỷ đồng, tăng 15% với doanh thu từ bán điện chiếm 99%. Lợi nhuận sau thuế đạt 2.323 tỷ đồng, tăng 13% so với thực hiện trong năm 2021 nhưng vẫn ở mức thấp so với các năm trước.

CTCP Điện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2 (Mã: NT2) là doanh nghiệp trong nhóm có lợi nhuận tăng mạnh nhất với 37%. Song tính riêng trong quý IV, lợi nhuận công ty này giảm 95% còn 6 tỷ đồng do giá khí đầu vào quá cao. Ngoài ra, chi phí quản lý doanh nghiệp tăng chủ yếu do ghi nhận chi phí dự phòng nợ phải thu khó đòi là 239 tỷ đồng so với cùng kỳ không ghi nhận.   

Nhóm năng lượng tái tạo duy trì đà tăng 

Hiện có ít doanh nghiệp trên sàn chứng khoán có ngành nghề kinh doanh chính là phát triển điện gió, điện mặt trời. Một số doanh nghiệp đang có hoạt động mở rộng và phát triển thêm mảng năng lượng tái tạo như Bamboo Capital (Mã: BCG), Cơ điện lạnh (REE), Điện Gia Lai (Mã: GEG),…

Năm 2022, REE ghi nhận lãi cao nhất lịch sử với 3.513 tỷ, tăng 64% so với năm 2021 nhờ đóng góp lớn từ mảng năng lượng tái tạo. Hiện danh sách các công ty liên kết của REE hầu hết trong mảng thủy điện. Năm 2022, 18 công ty liên doanh liên kết đem về cho REE 1.077 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 39%.

 Các công ty liên doanh kiên kết vẫn đóng góp lợi nhuận đều đặn 900 - 1.000 tỷ đồng cho REE. (Nguồn: MH tổng hợp từ BCTC đã kiểm toán của REE).

Năm 2022, BCG Energy, thành viên của Bamboo Capital cũng ghi nhận doanh thu bán điện khả quan với khoảng 1.080 tỷ đồng, tăng 41% so với năm 2021 và chiếm 23,5% trong tổng doanh thu của toàn tập đoàn.

Tính tới thời điểm hiện tại, Điện Gia Lai đang vận hành và xây dựng 23 nhà máy năng lượng tái tạo đa dạng loại hình từ thủy điện, điện mặt trời, áp mái và Điện Gió tại 14 tỉnh thành với tổng công suất gần 750 MWp.

Cơ cấu doanh thu của Điện Gia Lai cho thấy 94% nguồn thu đến từ bán điện. Năm 2022, doanh thu thuần hợp nhất của công ty này là 2.093 tỷ đồng, tăng 32%. Biên lợi nhuận gộp đạt 48%, cao hơn mức 39% của trung bình ngành.

Đối với Tập đoàn Hà Đô (Mã: HDG), trong năm 2022, trong khi doanh thu mảng kinh doanh bất động sản đi xuống, mảng năng lượng với nguồn thu là từ điện gió, điện mặt trời, thủy điện lại tăng mạnh hơn 69% lên 2.160 tỷ đồng, chiếm 59% doanh thu của tập đoàn năm vừa rồi.

Nhóm thủy điện sẽ hết thời, điện gió lên ngôi năm 2023

Theo Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS), những năm tới, nhu cầu tiêu thụ điện vẫn tăng trưởng ổn định trong dài hạn. Khi hiện tượng La Nina bắt đầu suy yếu vào nửa đầu năm 2023, El Nino sẽ duy trì trạng thái trung tính vào tháng 3/2023 ở mức 70% nên tình hình thủy văn sẽ bắt đầu kém khả quan hơn cho các doanh nghiệp thủy điện.

Các doanh nghiệp nhiệt điện với các nhà máy mới có tuổi đời còn mới, vận hành ổn định được kỳ vọng sẽ được huy động sản lượng cao hơn.

Trong khi đó nhóm nhiệt điện sử dụng khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) sẽ gặp nhiều thách thức. Việt Nam dự kiến sẽ phát triển hơn 28.400 MW nguồn điện sử dụng khí LNG nhập khẩu và có hơn 14.900 MW nguồn điện khác được chuyển đổi sang sử dụng LNG nhằm bù đắp cho nguồn khí đốt khai thác trong nước và hạn chế phát thải từ nhiệt điện than.

Tuy nhiên, các chuyên gia dự đoán giá khí đốt chưa thể hạ nhiệt ngay. Nga hiện đang là quốc gia xuất khẩu LNG lớn thứ 4 trên thế giới và xung đột giữa Nga và Ukraine xảy ra từ đầu năm đã đẩy giá LNG tăng vọt sau đó giảm về 30 USD/mmBTU, nhưng mức giá này vẫn rất cao so với mức trung bình 15 - 18 USD/mmBTU trong năm 2021. Giá khí LNG cao vẫn gây khó khăn cho quá trình đàm phán giá bán điện.

Ngoài ra, hợp đồng mua bán khí giữa các quốc gia thường sẽ được ký kết trong một khoảng thời gian dài và hạn chế sự tham gia của bên thứ 3. Do đó, quá trình tìm kiếm nguồn cung từ các đối tác và đàm phán 3 bên giữa nhà cung cấp, chủ đầu tư và EVN sẽ có thể mất nhiều thời gian.

Điện gió sẽ là nguồn điện được ưu tiên phát triển mạnh nhất đến năm 2050, còn nhiệt điện than sẽ không được phát triển mới sau năm 2030.. (Nguồn: VCBS). 

Với nhóm năng lượng tái tạo, do cơ cấu nguồn điện được phát triển theo hướng xanh hơn theo Quy hoạch điện VIII, điện gió sẽ là nguồn điện được ưu tiên phát triển mạnh nhất với tốc độ tăng trưởng công suất hàng năm (CAGR) ở mức 29,1%/năm trong giai đoạn 2020 - 2035 và 7,5%/năm trong giai đoạn 2035 - 2050.

Ngược lại, điện mặt trời sau giai đoạn tăng trưởng nóng sẽ không được đẩy mạnh đầu tư cho đến năm 2030, tuy nhiên kể từ giai đoạn 2030 - 2050 công suất sẽ đạt mức tăng trưởng trung bình 12%/năm.

TheoVietnambiz

Hình ảnh cánh tua-bin gió nặng 19 tấn vượt núi gây ấn tượng mạnh

 Đoạn video mới được công bố gần đây ghi lại cảnh các công nhân Trung Quốc điều hướng chiếc xe chở cánh tua-bin gió nặng 19 tấn leo lên sườn núi ở Tứ Xuyên.

Hình ảnh cánh tua-bin gió nặng 19 tấn vượt núi gây ấn tượng mạnh

Đoạn video mới được công bố gần đây ghi lại cảnh các công nhân Trung Quốc điều hướng chiếc xe chở cánh tua-bin gió nặng 19 tấn leo lên sườn núi ở Tứ Xuyên.

00:40/00:40
Giây phút nghẹt thở đưa cánh tua-bin 19 tấn vượt núi ở Tứ Xuyên Nhóm công nhân nhận nhiệm vụ phải chịu cái lạnh cực độ, cũng như say độ cao, bão và tuyết lớn để đưa những cánh quạt tua-bin khổng lồ vượt qua con đường quanh co.

Đoạn video công bố cho thấy chiếc tua-bin trắng khổng lồ từ từ xoay sang trái rồi sang phải, lượn theo sườn núi, Telegraph đưa tin ngày 26/2. Một cánh tua-bin gió nặng tới 19 tấn, dài 75 m.

Phải mất 2 tuần mới vận chuyển được từng cánh tua-bin khổng lồ như vậy vượt qua con đường quanh co. Nhóm công nhân nhận nhiệm vụ phải chịu cái lạnh cực độ, cũng như say độ cao, bão và tuyết lớn.

Phải mất hai tuần để vận chuyển từng cánh tua-bin lên con đường quanh co. Ảnh: Three Gorges Energy/AsiaWire.
trung quoc nang luong sach anh 1

Phải mất hai tuần để vận chuyển từng cánh tua-bin lên con đường quanh co. Ảnh: Three Gorges Energy/AsiaWire.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tuyên bố và cam kết nâng tổng công suất năng lượng gió và Mặt Trời của Trung Quốc lên ít nhất 1.200 GW và hạn chế lượng khí thải carbon vào năm 2030.

Theo Reuters, Trung Quốc đặt mục tiêu năng lượng tái tạo chiếm hơn 50% công suất phát điện vào năm 2025. Hiện con số này là 31.3%.

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nhanh chóng đã khiến ngành năng lượng tái tạo phải cạnh tranh với nhiều ngành khác, đặc biệt là nông nghiệp, về sử dụng đất. Điều này khiến việc giành quyền sử dụng đất để lắp đặt các tấm pin Mặt Trời ngày càng khó khăn.

TheoZingNews


Nhiên liệu hạt nhân Nga - nút thắt khó gỡ của châu Âu

 Một năm qua, châu Âu nhanh chóng cắt giảm mua than, khí đốt và dầu mỏ của Nga, nhưng không thể làm điều tương tự với hạt nhân.

Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế, các biện pháp trừng phạt của EU đối với than và dầu mỏ của Nga đã định hình lại dòng chảy thương mại năng lượng và khiến Moskva bị giảm doanh thu. Nhập khẩu than của EU đã giảm xuống bằng 0. Ngoài 4 quốc gia nhận dầu thô qua đường ống, việc vận chuyển bằng tàu là bất hợp pháp nếu không tuân thủ giá trần.

Trong khi đó, vào năm 2020, châu Âu nhập 54% than cứng và một phần tư lượng dầu mỏ từ Nga. Với khí đốt, châu Âu ngày càng chuyển dùng khí đốt hóa lỏng từ nhà cung cấp khác. Ngày nay, khí đốt Nga chỉ còn chiếm dưới 10% nguồn cung cho EU, thay vì 40% như trước xung đột Ukraine.

Tuy nhiên, năng lượng hạt nhân là một nút thắt khó tháo gỡ hơn với các nước EU - vì cả lý do lịch sử và thực tế.

Khi cạnh tranh trong lĩnh vực hạt nhân toàn cầu giảm dần sau Chiến tranh Lạnh, các lò phản ứng do Liên Xô xây dựng ở EU vẫn bị kẹt trong việc phải dùng nhiên liệu sản xuất riêng từ Nga, giúp Moskva đóng vai trò lớn.

Vào năm 2021, tập đoàn nguyên tử khổng lồ thuộc sở hữu nhà nước của Nga Rosatom đã cung cấp 20% uranium tự nhiên cho các lò phản ứng của châu Âu. Họ đồng thời xử lý một phần tư dịch vụ chuyển đổi và cung cấp một phần ba dịch vụ làm giàu uranium, theo Cơ quan Cung ứng Euratom của EU (ESA).

Các tháp làm mát của nhà máy điện hạt nhân ở Dukovany, Czech. Ảnh: Reuters

Các tháp làm mát của nhà máy điện hạt nhân ở Dukovany, Czech. Ảnh: Reuters

Cùng năm đó, các nước châu Âu đã trả cho Nga 210 triệu euro để mua uranium thô, so với 88 tỷ euro mà khối đã chi cho nước này để mua dầu. Giá trị xuất khẩu nhiên liệu và công nghệ hạt nhân liên quan đến Nga trên toàn thế giới đã tăng lên hơn một tỷ USD (940 triệu euro) vào năm ngoái, theo nghiên cứu từ Viện Dịch vụ Thống nhất Hoàng gia (RUSI).

Tại EU, giá trị xuất khẩu hạt nhân của Nga giảm ở một số quốc gia như Bulgaria và Czech nhưng lại tăng ở các quốc gia khác, bao gồm Slovakia, Hungary và Phần Lan, theo dữ liệu của RUSI.

"Mặc dù rất khó để đưa ra kết luận rõ ràng từ bộ dữ liệu không đầy đủ và có giới hạn về thời gian, nhưng nó cũng cho thấy vẫn còn sự phụ thuộc và thị trường cho nhiên liệu hạt nhân của Nga", Darya Dolzikova, nhà nghiên cứu tại Đại học California, cho biết.

Theo Agnieszka Kaźmierczak, người đứng đầu ESA, dù uranium từ Nga có thể được thay thế bằng nhập khẩu từ nơi khác trong một năm - và hầu hết nhà máy hạt nhân đều có dự trữ bổ sung ít nhất một năm - nhưng các quốc gia có lò phản ứng VVER do Nga xây dựng đều phụ thuộc vào nhiên liệu nước này sản xuất.

"Có 18 nhà máy điện hạt nhân do Nga thiết kế ở EU và tất cả chúng sẽ bị ảnh hưởng nếu áp lệnh trừng phạt. Đây vẫn là vấn đề gây chia rẽ sâu sắc trong Liên minh châu Âu", Mark Hibbs, Thành viên cấp cao tại Chương trình Chính sách Hạt nhân của Carnegie cho biết.

Đó là lý do khối này đã vật lộn trong năm qua để không nhắm mục tiêu vào ngành công nghiệp hạt nhân của Nga, bất chấp những lời kêu gọi liên tục từ Ukraine và một số nước EU nhằm tấn công tập đoàn Rosatom. "Toàn bộ câu hỏi về việc trừng phạt lĩnh vực hạt nhân về cơ bản đã bị hủy bỏ trước khi có được một cuộc thảo luận ý nghĩa", nhà ngoại giao một nước EU giấu tên, cho biết.

Phản đối nhất là Hungary, một trong năm quốc gia - cùng với Slovakia, Bulgaria, Phần Lan và Czech. Các lò phản ứng do Nga xây dựng tại nước này đến nay không có nhiên liệu thay thế.

Theo người đứng đầu ESA Kaźmierczak, Bulgaria và Czech đã ký hợp đồng với công ty Westinghouse của Mỹ để thay thế nhiên liệu hạt nhân của Nga. Quá trình này có thể mất ba năm vì các cơ quan quản lý cần phân tích và cấp phép cho loại nhiên liệu mới.

Tuy nhiên, bà Kaźmierczak cho biết vấn đề lớn hơn là dịch vụ toàn diện về chuyển đổi và làm giàu uranium, một lĩnh vực mà toàn thế giới thiếu năng lực kinh niên. Chuyên gia này cho rằng phải mất 7 đến 10 năm để thay thế được dịch vụ của Rosatom, và còn phụ thuộc đầu tư vào lĩnh vực này lớn đến đâu.

Năm ngoái, Phần Lan đã hủy bỏ thỏa thuận xây dựng một nhà máy hạt nhân do Nga triển khai ở bờ biển phía tây của đất nước. Động thái khiến Rosatom khởi kiện trong khi các nước khác vẫn không thay đổi chiến lược.

Lò phản ứng Mochovce-3 mới theo thiết kế VVER của Liên Xô tại Slovakia đã đi vào hoạt động vào đầu tháng này. Vì vậy, Nga sẽ cung cấp nhiên liệu cho nó đến ít nhất năm 2026.

Trong khi đó, Hungary đã thắt chặt quan hệ với Moskva bằng cách cấp phép xây dựng thêm hai lò phản ứng tại nhà máy Paks vào mùa hè năm ngoái. Dự án được bảo lãnh bởi khoản vay 10 tỷ euro của Nga.

"Ngay cả khi chúng ra đời, các lệnh trừng phạt hạt nhân sẽ được miễn trừ vì chúng tôi phụ thuộc vào nhiên liệu hạt nhân của Nga", một nhà ngoại giao từ một quốc gia EU khác cho biết.

Phiên An (theo Politico