e

Thứ Bảy, tháng 2 19, 2022

Bốn nhà máy điện gió ở Sóc Trăng đã hòa lưới quốc gia

 Ngoài 4 nhà máy điện gió đã đưa vào hoạt động, tỉnh Sóc Trăng còn 6 doanh nghiệp phong điện đang triển khai dự án tại các huyện ven biển.

Ngày 15/2, UBND tỉnh Sóc Trăng cùng doanh nghiệp đầu tư nhà máy điện gió số 7 đã khánh thành dự án phong điện tại xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu. Đây là nhà máy thứ tư tại Sóc Trăng được hòa lưới điện quốc gia với 110,8 MW.

Trao đổi với Zing, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Sóc Trăng Võ Văn Chiêu cho biết nhà máy điện gió số 7 có quy mô 90 ha khu vực biển và 3 ha đất liền, vốn đầu tư gần 5.700 tỷ đồng. Giai đoạn một vừa khánh thành gồm 7 tuabin điện gió (30 MW), vốn đầu tư hơn 1.400 tỷ đồng.

Nhà máy điện gió số 7 tỉnh Sóc Trăng khánh thành ngày 15/2. Ảnh: Việt Tường.
Soc Trang co 4 nha may dien gio di vao hoat dong anh 1

Nhà máy điện gió số 7 tỉnh Sóc Trăng khánh thành ngày 15/2. Ảnh: Việt Tường.

Theo lãnh đạo Sở Công Thương Sóc Trăng, năm 2022, tỉnh này hoàn thành thêm 6 dự án phong điện với tổng công suất điện gió 269 MW. Trong đó, 3 dự án có cùng 30 MW là nhà máy số 2, Hòa Đông giai đoạn một, Lạc Hòa giai đoạn một (thêm 30 MW).

Đối với điện gió Hòa Đông giai đoạn 2 công suất thêm 46 MW, Lạc Hòa giai đoạn 2 thêm 130 MW, nâng tổng công suất của điện gió hòa lưới quốc gia năm 2022 tại Sóc Trăng lên 436,8 MW.

Lộ trình hiện thực hóa cam kết của Việt Nam tại COP26

 


Tại COP26, Việt Nam đã cùng gần 150 quốc gia cam kết đưa mức phát thải ròng về “0” vào giữa thế kỷ; cùng với hơn 100 quốc gia tham gia cam kết giảm phát thải khí methane toàn cầu vào năm 2030 so với năm 2010; cùng 141 quốc gia tham gia tuyên bố Glasgow của các nhà lãnh đạo về rừng và sử dụng đất; cùng gần 50 quốc gia tham gia tuyên bố toàn cầu về chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch.

Các cam kết mạnh mẽ và những ý kiến đóng góp có trách nhiệm của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, mở ra nhiều cơ hội hợp tác về tăng trưởng ít phát thải, thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu. Ngay sau khi Hội nghị ở Glasgow kết thúc, một lộ trình tổng thể nhằm hiện thực hóa các mục tiêu khí hậu đã được Chính phủ vạch ra, và những bước đi đầu tiên trong hành trình ấy cũng đã được kích hoạt…  

Phát triển ít phát thải sẽ là xu thế chủ đạo

Phát biểu tại buổi hội thảo do Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hồi tháng 12/2021, ông Phạm Văn Tấn, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Tài nguyên và Môi trường) nhấn mạnh phát triển ít phát thải sẽ là xu thế chủ đạo để Việt Nam tiếp tục thay đổi toàn diện mô hình phát triển từ dựa trên năng lượng hoá thạch, sử dụng nhiều tài nguyên sang mô hình phát triển theo hướng ít phát thải.

Cùng với Gói Thỏa thuận khí hậu Katowice được thông qua tại COP24 năm 2018, Gói Thỏa thuận khí hậu Glasgow được thông qua tại COP26, Bộ quy tắc hướng dẫn thực hiện Thoả thuận Paris cơ bản được hoàn tất, là cơ sở để các nước triển khai Thỏa thuận Paris trong nước, thúc đẩy hợp tác song phương, đa phương và huy động sự tham gia của khối doanh nghiệp đầu tư cho ứng phó với biến đổi khí hậu.


Ông Phạm Văn Tấn, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, phát biểu tại buổi hội thảo ngày 7/12/2021. (Ảnh: TTXVN)

Ông Tấn cho biết, để thực thi những cam kết COP26 của Việt Nam, Chính phủ sẽ sớm ban hành nghị định quy định giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone; danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính; hệ thống giám sát và đánh giá hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu cấp quốc gia; đề án phát triển thị trường carbon tại Việt Nam…Ngoài ra, các Bộ, ngành, địa phương sẽ rà soát, điều chỉnh các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch có liên quan phù hợp với mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050; cũng như tích cực, chủ động tăng cường hợp tác quốc tế về tài chính, công nghệ, nâng cao năng lực triển khai Thỏa thuận Paris và các cam kết tại COP26.

Về lộ trình cụ thể, thời gian tới Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ xây dựng Đề án về nhiệm vụ, giải pháp đột phá triển khai kết quả Hội nghị COP26 về biến đổi khí hậu, tập trung tháo gỡ thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài nhằm tận dụng các cơ hội huy động nguồn lực trong và ngoài nước cho các dự án phát triển ít phát thải.

Đặc biệt, Bộ sẽ hoàn thiện cập nhật Chiến lược quốc gia về Biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050, bao gồm mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050; cập nhật Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu phù hợp với các mục tiêu cam kết tại Hội nghị COP26 và xây dựng Báo cáo quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm khẳng định các nỗ lực và ưu tiên của Việt Nam cùng với nhu cầu hỗ trợ gửi Ban thư ký Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu; xây dựng Kế hoạch hành động giảm phát thải khí methane đến năm 2030, chủ trì đánh giá tiến độ thực hiện hàng năm; xây dựng Chương trình hỗ trợ thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) phù hợp với cam kết tại COP26.

Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng sẽ phối hợp với Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành, địa phương liên quan triển khai điều tra khảo sát biển phục vụ quy hoạch phát triển điện gió ngoài khơi; triển khai áp dụng các công cụ định giá cacbon, bao gồm thuế cacbon và phát triển thị trường cacbon trong nước; tuyên truyền, nâng cao nhận thức, năng lực cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân để tham gia các cơ chế thị trường, phi thị trường.

Bộ Ngoại giao sẽ chủ trì triển khai công tác “ngoại giao khí hậu” nhằm huy động hỗ trợ quốc tế phục vụ mục tiêu nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và đạt phát thải ròng bằng “0”, nâng cao vai trò và vị thế của Việt Nam tại các tổ chức, cơ chế, diễn đàn đa phương.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đẩy mạnh huy động nguồn lực và xây dựng lộ trình tăng trưởng xanh gắn kết với phát triển kinh tế-xã hội với tầm nhìn dài hạn góp phần đạt được mục tiêu cam kết; nghiên cứu, thí điểm triển khai các công cụ kinh tế, tài chính để thực hiện lộ trình. Hỗ trợ giải quyết những khó khăn, vướng mắc, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư vào Việt Nam triển khai các dự án phát triển, đặc biệt các dự án ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển năng lượng tái tạo.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách tài chính phục vụ chuyển đổi dự án theo Cơ chế phát triển sạch (CDM) sang dự án theo Cơ chế phát triển bền vững (SDM) phù hợp với quy định trong Bộ Quy tắc Hướng dẫn thực hiện Thoả thuận Paris.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát các nỗ lực đóng góp giảm phát thải khí nhà kính lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp, bảo đảm mục tiêu thực hiện cam kết, trong đó có giảm khí methane trong nông nghiệp đến năm 2030; rà soát các dự án trao đổi tín chỉ carbon từ rừng theo nguyên tắc ưu tiên sử dụng tín chỉ thực hiện cam kết của Việt Nam về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, bảo đảm quyền lợi và khuyến khích đầu tư vào các dự án phát triển rừng; chủ trì triển khai Ý định thư và các sáng kiến đã tham gia tại COP26 thuộc lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn; xây dựng kế hoạch triển khai Tuyên bố Glasgow về rừng và sử dụng đất.

Bộ Công thương chủ trì rà soát, hoàn thiện Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2045 phù hợp với mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050; xây dựng kế hoạch triển khai Tuyên bố toàn cầu về chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch.

Chuyển đổi từ điện than sang năng lượng sạch là hướng đi tất yếu trong lộ trình tiến tới phát thải ròng bằng 0. (Ảnh minh họa)

Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu về sự phù hợp tham gia tuyên bố chấm dứt việc sản xuất xe chạy bằng xăng, dầu từ nay đến năm 2040, xây dựng lộ trình chuyển đổi phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Bộ Xây dựng nghiên cứu đề xuất lộ trình phát triển hạ tầng đô thị xanh phù hợp với cam kết; tham gia các sáng kiến liên quan đến lĩnh vực xây dựng đã được công bố tại Hội nghị COP26.

Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Công thương và các Bộ, ngành nghiên cứu phương án phát triển điện hạt nhân; tổ chức thực hiện các nghiên cứu phát triển năng lượng mới như năng lượng hydro, năng lượng sóng biển, địa nhiệt; xây dựng và công bố các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến công nghệ ứng phó với biến đổi khí hậu; hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến thúc đẩy chuyển giao công nghệ ứng phó với biến đổi khí hậu.

Những bước đi đầu tiên trong triển khai cam kết COP26

Ngày 21/12/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 2157/QĐ-TTg thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai thực hiện cam kết của Việt Nam tại COP26, đánh dấu bước đi đầu tiên của Việt Nam trong lộ trình hiện thực hóa những mục tiêu đầy tham vọng của mình.

Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ chỉ đạo, điều phối giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ triển khai thực hiện cam kết của Việt Nam tại COP26; giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc tăng cường điều phối các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu giữa các bộ, ngành, địa phương và hợp tác giữa Việt Nam với các tổ chức quốc tế, đối tác phát triển và các nước.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Cuộc họp Ban chỉ đạo quốc gia triển khai thực hiện cam kết của Việt Nam tại Hội nghị COP26. (Ảnh: VGP)

Chủ trì cuộc họp lần thứ nhất của Ban chỉ đạo ngày 13/1 vừa qua, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng ban chỉ đạo nêu rõ, ứng phó biến đổi khí hậu, giảm phát thải carbon, phát triển bền vững là xu thế không thể đảo ngược với quyết tâm cao và mục tiêu lớn của cộng đồng quốc tế. Đây cũng là vấn đề quan trọng với Việt Nam - một nước đang phát triển, đồng thời là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng lớn nhất của biến đổi khí hậu.

Người đứng đầu Chính phủ cho rằng, việc thực hiện cam kết của Việt Nam tại COP26 phù hợp với chương trình tái cơ cấu nền kinh tế đất nước; phù hợp với xu thế của thế giới về phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số.

“Chống biến đổi khí hậu là vấn đề lớn của cả thế giới. Do là vấn đề toàn cầu nên phải có cách tiếp cận toàn cầu; vấn đề tác động tới toàn dân, mọi doanh nghiệp nên phải được tiếp cận toàn dân, mọi doanh nghiệp. Người dân, doanh nghiệp vừa là trung tâm, vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, động lực của vấn đề chống biến đổi khí hậu”.

Quang cảnh cuộc họp. (Ảnh: VGP)

Thủ tướng yêu cầu các thành viên Ban Chỉ đạo, các bộ, ngành rà soát bổ sung thể chế; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; xây dựng cơ chế thu hút nguồn lực tài chính, công nghệ, kinh nghiệm quản lý... để thực hiện các cam kết, chống biến đổi khí hậu.

Ngay trong năm 2022, chương trình tổng thể phải ban hành được, trong đó dự báo được tình hình; mục tiêu, quan điểm; nhiệm vụ, giải pháp; kế hoạch tổ chức thực hiện; huy động nguồn lực... để trình cấp có thể quyền xem xét... Các bộ, ngành phải chủ động xây dựng kế hoạch thuộc bộ, ngành mình về chống biến đổi khí hậu và thực hiện các cam kết.


Tại cuộc họp, Ban Chỉ đạo đã phân tích, thảo luận về các nhiệm vụ trọng tâm triển khai thực hiện cam kết của Việt Nam tại Hội nghị COP26; các định hướng đề xuất chương trình, dự án triển khai; nhu cầu hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế, đối tác phát triển; định hướng rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách nhằm đón đầu các dòng vốn tín dụng, đầu tư cho ứng phó với biến đổi khí hậu và chuyển đổi năng lượng...

Chỉ ít ngày sau cuộc họp đầu tiên của Ban chỉ đạo, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành đã ký Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính.

Theo đó, có 6 lĩnh vực phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính gồm: năng lượng, giao thông vận tải, xây dựng, các quá trình công nghiệp, nông lâm nghiệp và sử dụng đất, chất thải. Bên cạnh đó, 1.662 cơ sở thuộc ngành công thương; 70 cơ sở thuộc ngành giao thông vận tải; 104 cơ sở thuộc ngành xây dựng; 76 cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính thuộc ngành tài nguyên và môi trường.

Thúc đẩy hợp tác quốc tế trong triển khai các mục tiêu khí hậu

Các đối tác phát triển quốc tế đã thể hiện mong muốn và cam kết đồng hành với Việt Nam trong quá trình triển khai thực hiện các cam kết khí hậu sau Hội nghị COP26. Việc cam kết đưa phát thải ròng về “0” và tham gia cam kết giảm phát thải khí methane đã gửi đi tín hiệu mạnh mẽ với cộng đồng quốc tế, khai thông cơ hội tận dụng sự dịch chuyển của nguồn tài chính toàn cầu cho phát triển ít phát thải vào Việt Nam.


Phát biểu tại hội thảo công bố kết quả Hội nghị COP26 - Hành động của Việt Nam hồi tháng 12 năm ngoái, Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà nhấn mạnh, là một nước đang phát triển với nguồn lực còn hạn chế, trong khi lại chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu, Việt Nam vẫn quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, và mong muốn nhận được sự hợp tác từ cộng đồng quốc tế trong các vấn đề chuyển giao công nghệ, chia sẻ tri thức, đóng góp tài chính để thực hiện nhiệm vụ cao cả, nhưng vô cùng khó khăn này.

Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: Văn Toản)

Bộ trưởng cho biết, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tích cực thảo luận để ký kết các chương trình, kế hoạch hợp tác với nhiều đối tác quan trọng, trong đó có các đối tác phát triển và các nước, nhằm hiện thực hóa mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0. Bộ trưởng kêu gọi các nước, các tổ chức trong và ngoài nước cùng cộng đồng doanh nghiệp sớm triển khai các hoạt động hợp tác, chung tay cùng Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu, nhằm thực hiện các cam kết mà Việt Nam đã đưa ra tại Hội nghị COP26.

Quang cảnh buổi hội thảo. (Ảnh: Văn Toản)

Tại Hội thảo, các đại biểu quốc tế chúc mừng Việt Nam đã có những cam kết rất mạnh mẽ trong khuôn khổ Hội nghị COP26, đồng thời khẳng định sẽ hỗ trợ Việt Nam trong tiến trình biến các cam kết đó thành hiện thực.

Bà Caitlin Wiesen, Trưởng Đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam:

Chúng tôi chúc mừng Việt Nam luôn là quốc gia tiên phong trong các hợp tác đa phương, đi đầu trong chủ trương lấy người dân làm trung tâm, tăng trưởng bao trùm và phát triển bền vững ở cả khu vực và trên toàn cầu. Chúng tôi đặc biệt khen ngợi cam kết của Việt Nam trong việc nâng cao tham vọng và tham gia các nỗ lực toàn cầu để chống lại biến đổi khí hậu. Đã đến lúc phải điều chỉnh lại các chính sách, khung pháp lý, chiến lược, kế hoạch đầu tư để đạt được những mục tiêu mới này.

Mức phát thải carbon ròng bằng “0” vào năm 2050 là một mục tiêu đầy tham vọng nhưng có thể đạt được với sự lãnh đạo mạnh mẽ của Chính phủ. UNDP cam kết hợp tác chặt chẽ với Chính phủ, các đối tác phát triển, doanh nghiệp, nhà khoa học, phụ nữ, thanh niên và cộng đồng địa phương, để theo đuổi phương pháp tiếp cận toàn Chính phủ và toàn xã hội nhằm hiện thực hóa các tham vọng mới này.

TheoNhanDan

Thứ Sáu, tháng 2 18, 2022

5 Reasons to Transition from SF6 to Pure Air in MV Switchgear

 


5 Reasons to Transition from SF6 to Pure Air in MV Switchgear 

Executive summary 

As electrification increases and renewable penetration grows, so too does the need for more medium voltage switchgear. This equipment commonly uses sulphur hexafluoride (SF6), a man-made gas with a very high global warming potential. As the electricity industry invests in a more sustainable and digital future, it seeks green alternatives to SF6. Compared to other alternative gases for MV switchgear, pure air is quickly emerging as the superior choice. by Christophe Prévé Schneider Electric 2

What’s SF6?

 Sulphur hexafluoride (SF6) is a man-made gas that for decades has been widely used in high and medium voltage electrical equipment, like switchgear, as an insulating and breaking medium. The gas owes its popularity to its insulating and current breaking properties, thermal capacity, and stability. It’s also inert, nonflammable, and completely non-toxic in its pure form. And crucially for the many tight spaces into which switchgear must be squeezed, SF6’s high insulating property made it possible to significantly reduce the size of switchgear. And although you may not see them, switchgear are everywhere. They are essential electrical equipment for the grid, for industrial applications, and for large buildings. Over 30 million units of medium-voltage switchgear installed worldwide use SF6, a highly trusted technology. Sounds great, right? Well, not exactly. There are some strong motivations for transitioning away from SF6 to an innovative new alternative that uses only pure air.

Reason #1

 Pure Air is Superior to a Strong Greenhouse

 Gas SF6 has a global warming potential (GWP) 23,500 times greater than that of CO2. The GWP metric was developed to compare the global warming impacts of different gases. It is a relative measure of how much heat a greenhouse gas traps in the atmosphere. Specifically, it is a measure of how much energy the emissions of 1 ton of gas will absorb over a given period of time, relative to the emissions of 1 ton of carbon dioxide (GWP=1). The larger its GWP, the more the gas in question warms the Earth compared to CO2 over that time period. SF6 is one of six types of greenhouse gases targeted by the Kyoto Protocol and European Directive 2003/87 (Greenhouse Emission allowance trading). Each typical load break switch, part of a unit of switchgear, has an average of 1 kg of SF6 inside it. If 1kg were to be mistakenly released into the atmostphere, it would have the same potential environmental impact as driving a car about 200,000 kilometers (a typical vehicle emits around 120g of CO2 per kilometer). Multiply that times 30 million switchgear units and it is becomes clear why choosing the best alternative to SF6 is necessary. Pure air is the ultimate replacement of the greenhouse gas. It makes the concerns around GWP obsolete, as it has none. But more than that, its environmental safety is fully transparent. 

Reason #2

Pure Air Requires No Recycling 

The pure air we breathe every day requires no recycling, naturally. The same cannot be said of SF6 or other man-made gases. When an SF6 switchgear unit reaches the end of its operational life, the gas is ideally recaptured, reprocessed, and reused. If it is handled within a closed system until the end of its lifecycle, the amount of leakage can be dramatically reduced, thus reducing its environmental impact. With pure air, no such concern exists. What’s SF6? Reason #1 Reason #2 Schneider Electric 3 5 Reasons to Transition from SF6 to Pure Air in MV Switchgear Unfortunately, SF6 end-of-life procedure is not always completed, and rules – when and where they exist – are often not properly enforced. SF6, after use, is considered hazardous waste because of the toxic byproducts that result from current breaking operations. Additionally, end-of-life treatment of SF6, or other man-made gases, can be costly – about 20% of the price of the equipment itself. It involves numerous steps, including collection, recovery, and neutralization before recycling or destroying the gas. Only authorized hazardous waste managers can handle, transport, recycle, or destroy gases according to some national or regional regulations and standards. Using a pure air solution helps eliminate the need to produce SF6, drastically reduces switchgear’s environmental impact, and avoids the end-of-life recycling process.

Reason #3  

 Pure Air is a Win-Win Alternative to SF6 

New medium voltage switchgear technology from Schneider Electric using pure air is a groundbreaking alternative to SF6. It replaces SF6 in switchgear by using an innovative combination of vacuum interruption and pure air insulation, each a proven and trusted technology. And new SF6-free switchgear using pure air is able to achieve something more: It keeps the small physical footprint for which traditional SF6-based equipment is so valued, and it is operated in the same way as before so technicians require no retraining. Green MV switchgear technology is already up and running in pilot projects around the world, including at E.ON, the largest electrical distribution grid operator in Sweden, EEC Engie, the electrical distribution operator in New Caledonia, and at GreenAlp, a French electric distribution network. Key advantages of pure air in MV switchgear:  environmental friendliness  safety for people  ease of operation  same footprint as SF6  interchangeability with the currently used SF6 switchgear units  no need for end-of-life gas recovery  long-life expectancy Furthermore, switchgear manufacturers can obtain pure air by simply filtering ambient air, so they don’t have to rely on costly proprietary gases linked to specific vendors. For users, that translates to less likelihood of increasing equipment prices linked to a gas. 

Reason #4 

Pure Air is Green and Improves Safety 

Health and safety are chief concerns when considering SF6 alternatives because medium-voltage switchgear is used in public areas. Pure air is a responsible alternative for protecting the public from potential health and safety risks. It is completely free from toxins, so in the event of a leak, there is no harm to either people or the environment. It also does not pose a health risk for Reason #3 Reason #4 Schneider Electric 4 5 Reasons to Transition from SF6 to Pure Air in MV Switchgear those responsible for installation and end-of-life recycling and does not require strict equipment disposal regulations to protect people. Pure air is also free from any potential health and safety risks associated with unproven proprietary gases.

Reason #5 

 Pure Air is Free from Regulatory Concerns 

Many companies are taking great measures to dramatically reduce greenhouse gas emissions. These strategic efforts are motivated not only by the desire to improve sustainability, but also by strong regulatory pressure that can come from several levels of policy: country, regional, and international. In Europe, for example, SF6 use is already subject to stringent regulatory procedures, including its use, handling, decommissioning, monitoring, and inventory record maintenance. In 2014, SF6 was banned in the EU for most applications except the electrical industry because at that time there was no alternative for SF6. With that regulation due to be reviewed this year, further restrictions could be around the corner. That is in addition to other potentially expensive regulations including additional taxes and carbon pricing initiatives. It is prudent to future-proof operations by adopting an environmentally friendly alternative that’s immune to potential regulation. The pure air and vacuum technology provides reliable breaking and insulating performance without the risk of being subject to environmental regulations or carbon taxes

Conclusion

 For a future dominated by electricity, today’s decisions matter Globally, electricity consumption is predicted to increase by 48% by 2040. 87% percent of that increase is expected to take place in countries that often have less stringent environmental regulations. More MV switchgear is essential to satisfy this rapid growth and support industrialization, especially in developing nations, which are increasing their investment in transmission and distribution. Over the next decade electric utilities are anticipated to invest around $3.2 trillion in new and replacement transmission and distribution infrastructure. Against this background, making a green switchgear choice is especially important as the demand for MV switchgear rises – not only for utilities, but for private installations, too (such as commercial and industrial installations). And as the popularity of renewables continues to grow, it’s important that their new MV infrastructure also be green. New green MV switchgear contains an additional benefit – it’s natively digital and connected. So in addition to being environmentally sound, its users can leverage the power of data for managing their infrastructure. By choosing SF6-free switchgear that uses pure air and vacuum interruption in these new installations, companies not only benefit from reliable breaking and insulating performance with a proven safety record, they prepare themselves for growth, contribute to energy decarbonization, and free themselves from regulatory considerations. Conclusion Reason #5 Schneider Electric 5 5 Reasons to Transition from SF6 to Pure Air in MV Switchgear


 About the author 

Christophe Prévé is the Chief Technology officer of MV Switchgear Activity at Schneider Electric. He graduated from the Ecole Supérieure d'Electricité (SUPELEC) in 1988. He began his career at a Grenoble, France utility as an Electrical Network Operator and then as an Electrical Studies Manager. He joined Schneider Electric in 1994 in the Protection Relay Department as an Electrical Network Expert. He had the opportunity to write a book on "Protection of Electrical Networks" in Edition Hermès. In 1998, he moved to MV Switchgear Activity where he took different responsibilities in R&D. He is now responsible for new product development and new technology integration. He is also a lecturer at the ENSE3 Engineering School in Grenoble

Source : https://download.schneider-electric.com/files?p_enDocType=White+Paper&p_File_Name=998-2095-07-10-20AR0-EN.pdf&p_Doc_Ref=998-2095-07-10-20AR0-EN&mkt_t



Source : https://download.schneider-electric.com/files?p_enDocType=White+Paper&p_File_Name=998-2095-07-10-20AR0-EN.pdf&p_Doc_Ref=998-2095-07-10-20AR0-EN

Meet EcoStruxure Automation Expert | Schneider Electric

 


VideoSchneider Electric

Tích hợp bộ biến tần thông minh DER cho hoạt động của hệ thống phân phối


Hình 1. Năng lượng mặt trời và sự thâm nhập DER khác làm tăng nhu cầu về biến tần thông minh.

Tích hợp bộ biến tần thông minh DER cho hoạt động của hệ thống phân phối


Bài học kinh nghiệm từ kinh nghiệm thử nghiệm đồng ruộng mới với các HTX điện.
Cập nhật tiêu chuẩn kết nối cho Biến tần

Để đảm bảo lưới điện phân phối tiếp tục hoạt động đáng tin cậy với tốc độ phát triển nhanh chóng của DER dựa trên biến tần và để sử dụng các chức năng biến tần thông minh trong các hoạt động của lưới điện, tiêu chuẩn kết nối DER ( IEEE 1547) cần được cập nhật. Do đó, các tiêu chuẩn sửa đổi - IEEE 1547-2018 và tiêu chuẩn thử nghiệm tương ứng IEEE 1547.1-2020 đã được xuất bản. Một loạt các bên liên quan bao gồm các hợp tác xã điện, các công ty tiện ích thành phố, các công ty tiện ích do nhà đầu tư sở hữu và các cơ quan quản lý như Ủy ban Công ích (PUC) đã bắt đầu áp dụng các tiêu chuẩn cập nhật. Khi tiêu chuẩn này bắt đầu được áp dụng và khám phá việc sử dụng các bộ biến tần thông minh làm tài sản lưới ngoài chức năng chính của chúng là chuyển đổi nguồn điện DC sang AC tăng lên, các cài đặt cho các bộ biến tần này có thể cần được thay đổi để tuân thủ tiêu chuẩn mới và để cung cấp các dịch vụ lưới điện, chẳng hạn như điều chỉnh điện áp, đi qua điện áp và tần số. 

Tác động của tăng trưởng DER nhanh chóng

Các hợp tác xã đã và đang trải qua sự phát triển của DER trong lãnh thổ kinh doanh của họ. Khi các tiêu chuẩn này được áp dụng rộng rãi hơn, điều này sẽ tác động đến cách quản lý các nguồn tài nguyên này và cách DER có thể cung cấp các dịch vụ lưới điện. Ở mức độ thâm nhập DER cao hơn, các bộ biến tần thông minh được kết nối với các DER này có thể hỗ trợ các hợp tác xã đảm bảo hiệu suất tối ưu của lưới điện cũng như chất lượng cao và độ tin cậy của dịch vụ điện cho các thành viên của họ. Ví dụ, các hợp tác xã có thể thực hiện các cài đặt thay thế trên bộ biến tần thông minh để cải thiện điều chỉnh điện áp trên bộ cấp nguồn phân phối. Các nhà sản xuất sẽ sớm phải kết hợp các tiêu chuẩn này vào biến tần của họ và chứng nhận chúng tuân thủ.

Những điều người vận hành lưới điện cần biết hoặc làm 

% {[data-nhúng-type = "image" data-nhúng-id = "620d0a52f8315ba4378b458d" data-nhúng-element = "span" data-nhúng-size = "640w" data-nhúng-alt = "Hình SEQ Hình & apos ; Bộ nghịch lưu năng lượng mặt trời ARABIC 2 PV chuyển đổi nguồn điện một chiều từ năng lượng mặt trời thành nguồn điện xoay chiều có thể sử dụng được trên lưới điện và mang lại năng suất cao hơn. " data-nhúng-src = "https://img.tdworld.com/files/base/ebm/tdworld/image/2022/02/NRECA_Inverters2.620d0a4fd7d35.png?auto=format&fit=max&w=1440" data-nhúng-caption = "Hình SEQ Hình \" ARABIC 2 <br> Bộ nghịch lưu năng lượng mặt trời PV chuyển đổi nguồn điện một chiều từ năng lượng mặt trời thành nguồn điện xoay chiều có thể sử dụng được trên lưới điện và cung cấp năng suất cao hơn. "]}%

Các tiêu chuẩn cập nhật yêu cầu tất cả các DER phải có khả năng điều chỉnh điện áp ở các mức nhất định. Chúng bao gồm khả năng tương tác, điều chỉnh điện áp bằng cách kiểm soát công suất phản kháng, phép đo hiệu suất nhiễu, đóng lại và các phép khác. Điều này có nghĩa là các nhà khai thác DER có thể cần áp dụng các cài đặt thay thế cho bộ biến tần thông minh để thực hiện các chức năng này và có thể dựa vào chúng để cung cấp các dịch vụ lưới điện, đặc biệt là điều chỉnh điện áp.

NRECA đã phát triển một khuôn khổ có thể giúp các hợp tác xã xác định những thay đổi trong cài đặt cần thiết để tuân thủ tiêu chuẩn IEEE cập nhật và đánh giá tác động của việc thay đổi cài đặt hoạt động của biến tần thông minh đối với hệ thống phân phối nông thôn. NRECA hợp tác với Trung tâm Thử nghiệm, Nghiên cứu & Ứng dụng Năng lượng Điện Quốc gia (NEETRAC) và hai hợp tác xã để tiến hành các thử nghiệm thực địa. Sau đó, chúng tôi chia sẻ những phát hiện liên quan đến cách xác định cài đặt biến tần thông minh để tuân thủ tiêu chuẩn và đạt được những lợi ích của việc sử dụng biến tần thông minh cho các dịch vụ lưới điện. Các bước của dự án bao gồm phát triển khuôn khổ, tiến hành mô phỏng với dữ liệu lưới điện lịch sử, mô phỏng hiệu suất biến tần bằng công cụ dòng điện phân phối, thiết kế kế hoạch thử nghiệm, thực hiện các kế hoạch thử nghiệm này tại hiện trường, thu thập dữ liệu lưới điện,

Khung / Các bước


Đây là phần đầu tiên của loạt bài gồm hai phần. Phần 1 tập trung vào việc phát triển khung và các bài học kinh nghiệm từ các mô phỏng để phát triển kế hoạch kiểm tra. Phần 2 của loạt bài này sẽ tập trung vào các phương pháp, quy trình và phân tích dữ liệu kiểm tra thực địa của hai hợp tác xã.

  • Bước 1 & 2: Nghiên cứu mô phỏng và thu thập dữ liệu trước thử nghiệm 

Mục đích của việc thực hiện các nghiên cứu mô phỏng là giúp xác định tác động của các thiết lập thay thế tiềm năng lên lưới điện phân phối, để các kế hoạch thử nghiệm được phát triển sẽ đáng tin cậy và thực tế. Dữ liệu lịch sử chuỗi thời gian thực tế (sản xuất và tải năng lượng mặt trời) đã được thu thập và sử dụng từ cả hai địa điểm thử nghiệm. Các cài đặt khác nhau của biến tần đã được mô phỏng trong mô phỏng dòng điện để bắt chước hoạt động của biến tần và để hiểu tác động trong nhiều tình huống tải và phát điện.


Trường hợp mô phỏng

          • Trường hợp cơ sở (Cài đặt mặc định)

          - Unity PF / Cài đặt chung mặc định

          - Không có quy định về điện áp

          • Trường hợp-I

            - Cố định PF cảm ứng

              - Cố định điện dung PF

                • Trường hợp-II

                  - Đường cong Volt-Var (có & không có dải chết)

                    - Xem xét các đường cong gợi ý từ hướng dẫn sử dụng biến tần

                      • Trường hợp-III 

                        - Đường cong Volt-Watt (nếu có)

                        Dữ liệu thu thập từ kết quả mô phỏng:

                          • Hồ sơ điện áp dọc theo bộ trung chuyển và khoảng cách của nó từ hệ thống PV và trạm biến áp
                          • Ảnh hưởng đến tổn thất
                            • Hệ số công suất tại trạm biến áp
                              • Ảnh hưởng đến hoạt động của thiết bị điều chỉnh điện áp

                              Bài học rút ra từ mô phỏng

                              Các kết quả và đầu ra mô phỏng đã mang lại cho nhóm dự án sự tự tin và phát triển cảm giác mong đợi về phản ứng của việc thay đổi cài đặt biến tần PV. Các kết quả mô phỏng cũng giúp xác định một tập hợp các cài đặt thay thế sẽ được các đồng nghiệp sử dụng. Tuy nhiên, mô phỏng có những hạn chế trong việc hiển thị phản ứng thực tế của hệ thống tại hiện trường. Để có thể đánh giá và phân tích tác động thực tế của việc cài đặt điều chỉnh điện áp lên hệ thống phân phối, nhóm dự án đã phát triển một quy trình thử nghiệm được triển khai tại hiện trường, thu thập dữ liệu và thực hiện phân tích.

                              Việc triển khai DER dựa trên biến tần (tức là biến tần thông minh) đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Kinh nghiệm về tiện ích đã chứng minh rằng bộ biến tần thông minh có tiềm năng cho phép DER hỗ trợ nhu cầu lưới điện khi kết hợp với các khả năng mới cho phép sử dụng đầy đủ các chức năng của bộ biến tần thông minh trong vận hành lưới điện phân phối. Do đó, DER có tiềm năng cho phép vận hành linh hoạt hơn các hệ thống phân phối với khả năng thâm nhập DER cao hơn, cũng như cung cấp các dịch vụ lưới điện ở cấp địa phương mà trước đây chưa có. Tiêu chuẩn kết nối IEEE-1547 được cập nhật cho phép tận dụng chức năng của bộ biến tần theo cách thức chuẩn hóa và có thể đoán trước, mang lại lợi ích lớn hơn cho tiện ích, ngoài chức năng chính của chúng. 

                              Khung được phát triển kết hợp các công cụ mô phỏng dựa trên dữ liệu lịch sử, kế hoạch thử nghiệm và phân tích dữ liệu thu thập được tại hiện trường để xác định chính xác tác động của các khả năng và cài đặt biến tần thay thế được bổ sung vào tiêu chuẩn 1547-2018. Kết quả đầu ra của phân tích đã được sử dụng để hỗ trợ các đồng nghiệp điều chỉnh các điểm đặt PF, volt-VAR và volt-Watt không đổi cho các tài sản quy mô tiện ích. NRECA cũng đã tiến hành các cuộc kiểm tra thực địa để đánh giá tác động của các thiết lập này đối với các mạch phân phối nông thôn. 

                              • Bước 3 & 4: Kế hoạch kiểm tra, Kiểm tra thực địa và Thu thập & phân tích dữ liệu sau kiểm tra 

                              NRECA và NEETRAC đã phát triển các giao thức thử nghiệm cho các địa điểm thử nghiệm sau khi thu thập dữ liệu sơ bộ về thông số kỹ thuật của biến tần. Nếu có nhu cầu thay đổi vật lý các cài đặt và thu thập các phép đo tại hiện trường, điều đó có thể được thực hiện từ xa. Sau khi quy trình thử nghiệm được phát triển, NRECA và các đồng nghiệp đã xem xét và sửa đổi kế hoạch thử nghiệm. NRECA và NEETRAC đã làm việc với các đồng nghiệp để sắp xếp một chuyến thăm thực địa, sau đó là một chương trình / giao thức thử nghiệm thực tế. Các chi tiết về các thử nghiệm hiện trường, chương trình thử nghiệm, dữ liệu được thu thập tại hiện trường và phân tích dữ liệu sẽ được đưa vào phần thứ hai của loạt bài này. 


                              Phần 2 của loạt bài này sẽ tập trung vào các phương pháp, thủ tục và phân tích dữ liệu kiểm tra thực địa của hai hợp tác xã.  

                              Nguồn : https://www.tdworld.com/distributed-energy-resources/article/21233634/integration-of-der-smart-inverters-for-distribution-system-operations?utm_source=TW%20



                              Chủ Nhật, tháng 2 13, 2022

                              Nghiên cứu của UCD cho biết Hệ thống năng lượng 'Liên minh châu Âu' được tích hợp đầy đủ có thể giảm 32% chi phí

                               Một nghiên cứu tư vấn mới cho thấy hệ thống truyền tải năng lượng 'Liên Châu Âu' được kết nối hoàn chỉnh có thể giảm chi phí năng lượng xuống 32% so với phương pháp 'Kinh doanh như Thông thường'. Nghiên cứu được thực hiện bởi một nhóm từ Viện Năng lượng của Đại học College Dublin (UCD) và được ủy quyền bởi SuperNode thông qua ConsultUCD .

                              Nghiên cứu đánh giá khả năng của hệ thống truyền tải của Châu Âu dựa trên Kịch bản năng lượng SuperNode cho Châu Âu 2050 [1] . Kịch bản này dự đoán xu hướng năng lượng trong tương lai và đã được xác nhận và mở rộng bởi nghiên cứu của UCD.

                              Việc giảm 32% chi phí được xác định chủ yếu đến từ việc mở rộng các dòng điện của châu Âu. Lãi suất dòng điện sẽ cho phép tối ưu hóa địa điểm phát điện tái tạo, do đó làm giảm đáng kể tổng công suất lắp đặt. Mặc dù kịch bản này đề xuất tăng công suất truyền tải, nhưng chi phí không đáng kể khi so sánh với chi phí tiết kiệm trong đầu tư phát điện so với cùng kỳ.

                              Một phát hiện quan trọng khác từ nghiên cứu là hệ thống truyền tải hiện tại không phù hợp với mục đích cho tương lai năng lượng của châu Âu. Nếu không tăng tốc đầu tư vào cơ sở hạ tầng, châu Âu sẽ phải đối mặt với những thách thức với giảm tải, cắt giảm phát điện và lượng khí thải quá cao. Việc không đạt được các mục tiêu khử cacbon sẽ không chỉ làm suy yếu các nỗ lực khí hậu quốc tế mà còn ảnh hưởng xấu đến các nền kinh tế của châu Âu và khả năng cạnh tranh trên quy mô toàn cầu.

                              Công việc mô hình hóa cũng được thực hiện cho nghiên cứu này cho thấy lợi ích ròng của việc đầu tư lớn vào việc phát triển các tài sản truyền tải mới để đảm bảo sử dụng hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên tái tạo của châu Âu và nêu bật một số điểm nghẽn cần đầu tư, chẳng hạn như mức lưu trữ lưới điện cao hơn.

                              Giáo sư Andrew Keane, Trường Kỹ thuật Điện & Điện tử UCD và Giám đốc, Viện Năng lượng UCD, người dẫn đầu nhóm nghiên cứu của UCD, cho biết:

                              “Hệ thống truyền tải hiện tại không phù hợp với mục đích cho tương lai năng lượng của châu Âu. Những thiếu sót của hệ thống truyền tải hiện tại đã được biết đến trong nhiều năm nhưng đã được dung thứ. Việc bắt buộc phải tiếp tục bật đèn và các yêu cầu của quá trình chuyển đổi năng lượng cho thấy rõ ràng rằng cần phải có một phương pháp truyền tải tiên tiến hơn ”.

                              Nhà phân tích chính sách và thị trường SuperNode, Marcos Byrne, cho biết,

                              “Công việc được thực hiện bởi nhóm UCD xác nhận lại các thách thức về độ tin cậy lưới điện của Ireland và châu Âu. Điều này sẽ chỉ trở nên tồi tệ hơn khi nhiều năng lượng tái tạo được tích hợp hơn, trừ khi một tư duy mới trong phát triển lưới điện được áp dụng. Nghiên cứu cho thấy một hệ thống truyền tải toàn châu Âu có thể giảm 32% chi phí năng lượng khi so sánh với cách tiếp cận 'Kinh doanh như Thông thường', nhấn mạnh rằng các kịch bản tạo điều kiện cho dòng điện lớn hơn dẫn đến chi phí hệ thống thấp hơn, vì lợi ích của người tiêu dùng năng lượng. Điều này củng cố niềm tin của SuperNode về sự cần thiết của các công nghệ truyền dẫn mới để giảm chi phí năng lượng và chúng tôi tin tưởng rằng hệ thống truyền dẫn siêu dẫn mà SuperNode đang phát triển sẽ là động lực chính cho quá trình chuyển đổi năng lượng của châu Âu. "

                              Nghiên cứu đầy đủ, được chia thành hai phần có sẵn như sau

                              Phần 1: Các kịch bản năng lượng trong tương lai và công cụ dòng chảy năng lượng

                              Phần 2: Phân tích đầu ra của công cụ

                              SuperNode, có trụ sở chính tại NovaUCD, thiết kế và cung cấp các sản phẩm truyền tải điện số lượng lớn siêu dẫn để thúc đẩy sự phát triển trong tương lai về năng lượng tái tạo quy mô lớn và đạt được nguồn cung cấp năng lượng khử cacbon dựa trên năng lượng tái tạo.

                              ConsultUCD, dịch vụ tư vấn được quản lý của UCD kết nối các tổ chức kinh doanh, công nghiệp, chính phủ và phi lợi nhuận với các học giả của UCD thuộc mọi lĩnh vực.

                              Để biết thêm thông tin , hãy liên hệ với Philip McCann, Cán bộ Truyền thông, SuperNode, e: philip.mccann@supernode.energy hoặc Micéal Whelan, Giám đốc Quan hệ Truyền thông và Truyền thông, NovaUCD, e: miceal.whelan@ucd.ie .

                              Hình 1: Ảnh chụp nhanh Giao diện người dùng đồ họa tương tác của Công cụ dòng điện châu Âu hiển thị 28 nút được mô hình hóa

                              [1] Kịch bản năng lượng SuperNode cho Châu Âu 2050 , liên kết bao gồm phiên bản ngắn và phiên bản dài

                              Thể loạihttps://supernode.energy/homepage-featured/a-fully-integrated-pan-eu-energy-system-can-reduce-costs-by-32-says-ucd-study/?fbclid=IwAR0MVvkSHTZlCafepBC-y

                              Thứ Năm, tháng 2 03, 2022

                              Israel tìm ra phương pháp tích trữ năng lượng Mặt Trời vào ban đêm

                               (VTC News) - 

                              Mặt trời chính là một nguồn năng lượng sạch và bền vững, có thể cung cấp năng lượng cho toàn bộ trái đất sử dụng trong nhiều năm.

                              Phát triển năng lượng mặt trời được nhiều quốc gia quan tâm đầu tư và dần trở nên phổ biến, tuy nhiên, rào cản của nguồn năng lượng này là việc tích trữ, trong khi các tấm quang năng (hay còn gọi là pin) có hạn sử dụng và gây ra những vấn đề về môi trường. Trước thực tế như vậy, các nhà khoa học Israel đã tìm ra phương pháp tích trữ năng lượng mặt trời vào ban đêm, hứa hẹn một giải pháp bền vững.

                              Phía Nam Israel có một sa mạc nhiều đá, nơi các tấm pin Mặt Trời gần như là nguồn cung cấp năng lượng chính. Nhưng sau hoàng hôn, khu vực này lại tìm đến nhiên liệu hóa thạch để tạo năng lượng. Ngoại trừ ở Kibbutz Yahel, một cộng đồng nhỏ cách không xa Biển Đỏ, ở đó, một công nghệ mới đã bắt đầu lưu trữ năng lượng mặt trời và sản xuất điện vào ban đêm…

                              Israel tìm ra phương pháp tích trữ năng lượng Mặt Trời vào ban đêm - 1

                              4.jpg

                              Vào ban ngày, năng lượng dư thừa từ các tấm pin mặt trời sẽ được chuyển xuống một hệ thống, nơi nước được sử dụng để cô đặc không khí và lưu lại trong các thùng chứa dưới lòng đất. Sau khi Mặt Trời lặn, không khí được “thả” ra giúp các turbine tạo ra điện. Chu trình này được lặp đi lặp lại như vậy, đồng nghĩa với nguồn điện từ năng lượng mặt trời không hề bị lãng phí. Công nghệ này có tên gọi “AirBattery” do công ty Augwind Energy (Israel) phát triển. 

                              Tổng giám đốc điều hành công ty, ông Or Yogev cho biết: "Đây là dự án lưu trữ năng lượng đầu tiên được thực hiện trên thế giới, chỉ chứa nước và không khí. Điện đang được lưu trữ dưới dạng khí nén trong các bể chứa ngầm đặt dưới lòng đất."

                              Không giống như các hệ thống trên mặt đất hoạt động với không khí cô đặc và cần diện tích đáng kể, sản phẩm của Augwind Energy lại chỉ yêu cầu các thùng thép mỏng với lớp lót polymer đặc biệt, được lắp đặt ngay tại nguồn năng lượng với giá rẻ hơn. Trong khi đó, công nghệ  “AirBattery” đạt hiệu quả 80% trong tích trữ năng lượng.

                              Nhà khoa học Gideon Friedman, tại Bộ Năng lượng Israel nhận định công nghệ này có nhiều ưu điểm hơn các tấm pin trữ năng lượng.

                              "Bảo quản năng lượng bằng pin có một số nhược điểm. Vật liệu khá độc hại nên chúng ta không thể vứt bỏ chúng dễ dàng, chúng có thời gian sử dụng ngắn, nghĩa là khoảng từ 5 đến 10 năm là phải thay thế.  Ngoài ra, một số nguyên liệu để làm ra tấm pin cũng có khả năng thiếu hụt. Hệ thống của Augwind không có những nhược điểm này. Nó hoàn toàn không độc hại và nó có thể chạy hàng nghìn chu kỳ với độ suy giảm không đáng kể".

                              Ngoài những ưu điểm về tính bền vững, hệ thống AirBattery còn có chi phí khá cạnh tranh, ngang bằng với pin, hiện ở mức khoảng 250 USD / kilowatt giờ và sẽ giảm vào năm sau xuống dưới 200 USD khi công ty sản xuất nhiều hơn. Cho đến nay, công ty Augwind Energy đã huy động được 60 triệu đô la từ các nhà đầu tư tổ chức.

                              Thế giới đang tìm cách loại bỏ các nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm nhưng sẽ khó có thể dựa hoàn toàn vào các nguồn tái tạo nếu không có giải pháp lưu trữ năng lượng. Vì thế, sáng kiến của công ty Augwind Energy có thể mở ra thị trường tiềm năng cho hiện tại và trong tương lai.

                              TheoVTCNews